Bữa cơm gia đình Việt thường có thịt kho tàu, sườn xào hay các món chiên rán bằng mỡ động vật. Nhiều người cho rằng hạn chế tinh bột và đường là đủ phòng ngừa tiểu đường, nên thoải mái ăn mỡ mà không lo ngại về đường huyết.

Thực tế, tiêu thụ quá mức chất béo bão hòa và dư thừa năng lượng làm tăng nguy cơ kháng insulin [1]. Khi lượng lipid trong máu vượt quá khả năng lưu trữ của mô mỡ trắng, axit béo tràn sang tích tụ tại gan và cơ xương, gây ngộ độc mỡ (lipotoxicity) và cản trở quá trình chuyển hóa đường của cơ thể [1] [2].

Ngộ độc mỡ trong tế bào cơ bắp diễn ra thế nào?

Khi lượng lipid lưu thông trong máu vượt quá khả năng hấp thụ và dự trữ của mô mỡ trắng (như trong tình trạng béo phì), các axit béo bắt đầu tích tụ bất thường tại các mô có khả năng chứa mỡ hạn chế như gan và cơ xương [2]. Hiện tượng tích tụ mỡ lạc chỗ này được gọi là ngộ độc mỡ (lipotoxicity), có liên quan chặt chẽ với tình trạng kháng insulin [2]. Sự tích tụ lipid trong cơ bắp phần lớn do cơ tăng hấp thụ axit béo, kết hợp với việc ty thể giảm khả năng đốt cháy (oxy hóa) chất béo [1].

Bên trong tế bào cơ, axit béo dư thừa được chuyển hóa và tích tụ dưới nhiều dạng dẫn xuất như acyl-CoA chuỗi dài, monoacylglycerol, diacylglycerol (DAG), axit phosphatidic, triacylglycerol (TAG) và ceramide [1] [2]. Trong số đó, nồng độ cao của ba chất là DAG, TAG và ceramide trong tế bào cơ có liên quan trực tiếp đến tình trạng kháng insulin [2].

Các phân tử mỡ này can thiệp vào quá trình truyền tín hiệu bình thường của tế bào [1]. Cụ thể, axit béo bão hòa kích hoạt các enzyme kinase như PKC, IKK beta, JNK, p38 MAP kinase và mTOR [2]. Riêng sự tích tụ DAG có liên quan đến việc kích hoạt phân nhóm kinase thuộc họ PKC [2]. Các kinase này làm biến đổi cấu trúc (phosphoryl hóa gốc serine) của chất nền thụ thể insulin IRS-1, ức chế hoạt động của IRS-1 và khiến nó bị phân hủy [2]. Hệ quả là tín hiệu insulin bị chặn đứng, làm rối loạn quá trình chuyển hóa đường tại tế bào cơ và trên toàn cơ thể [1] [2]. Nếu không kiểm soát, tình trạng giảm đáp ứng với insulin có thể tiến triển thành bệnh tiểu đường tuýp 2 [1].

Bằng chứng từ tế bào đến động vật thí nghiệm

Một nghiên cứu công bố năm 2003 đã khảo sát tác động của các loại axit béo tự do lên tế bào mỡ 3T3-L1 và ống cơ C2C12 [3]. Khi xử lý ống cơ C2C12 bằng palmitate (axit béo bão hòa chuỗi dài 16 carbon, C16:0) hoặc oleate (axit béo không bão hòa đơn, C18:1), chỉ có palmitate ức chế quá trình tổng hợp glycogen do insulin kích thích và chặn hoạt hóa enzyme Akt/Protein Kinase B (PKB) [3]. Palmitate cũng làm tích tụ ceramide và DAG trong ống cơ, trong khi oleate không gây hại [3]. Đáng chú ý, trên tế bào mỡ 3T3-L1, cả palmitate và oleate đều không ức chế tổng hợp glycogen hay Akt/PKB, và không làm tăng ceramide hay DAG [3]. Khi thử nghiệm thêm trên ống cơ, các axit béo bão hòa chuỗi dài khác như stearate (18:0), arachidate (20:0) và lignocerate (24:0) đều gây tích tụ ceramide, DAG và chặn tín hiệu insulin giống palmitate [3]. Ngược lại, các axit béo bão hòa chuỗi ngắn hơn như laurate (12:0) và myristate (14:0) không gây tích tụ ceramide hay ức chế Akt/PKB [3].

Về diễn tiến theo thời gian, một nghiên cứu năm 2015 trên chuột cống và chuột nhắt biến đổi gen đã theo dõi tác động của chế độ ăn nhiều chất béo hằng ngày (từ ngày 1 đến ngày 7) và hằng tuần (trong 6 tuần) [4]. Kết quả cho thấy chỉ trong 2-3 ngày ăn nhiều mỡ, nồng độ insulin, chất vận chuyển axit béo FAT/CD36 tại màng tế bào cơ, cùng lượng TAG, DAG và ceramide trong tế bào cơ đã tăng vọt mà không phụ thuộc vào sự thay đổi enzyme hay quá trình đốt mỡ của cơ [4]. Tuy nhiên, sự suy giảm vận chuyển đường do insulin kích thích và giảm hoạt động của chất vận chuyển đường GLUT4 lại xuất hiện muộn hơn nhiều, sau ít nhất 21 ngày [4].

Ở nhóm chuột nhắt bị loại bỏ gen quy định chất vận chuyển FAT/CD36, việc vận chuyển axit béo và tích tụ mỡ trong cơ giảm xuống, giúp cải thiện độ nhạy insulin và ngăn ngừa tình trạng rối loạn dung nạp đường do chế độ ăn [4]. Một tổng quan năm 2012 cũng ghi nhận rằng việc xóa gen quy định enzyme lipoprotein lipase, các chất vận chuyển axit béo (CD36, FATP1) hoặc enzyme DGAT-1 giúp ngăn chặn tích tụ mỡ trong cơ và xóa bỏ tình trạng kháng insulin do ăn nhiều chất béo [2]. Ngoài ra, việc tăng cường đốt cháy axit béo ở các cơ bị kháng insulin cũng giúp cải thiện khả năng vận chuyển đường [4].

Nghiên cứu trên người nói gì về mỡ trong cơ?

Một nghiên cứu công bố năm 2017 đã thực hiện trên 75 người trung niên và cao tuổi bị thừa cân hoặc béo phì (gồm 26 nam, 49 nữ; tuổi trung bình 59 ± 11; chỉ số khối cơ thể BMI 30 ± 5 kg/m²; đường huyết lúc đói 5,2 ± 0,5 mmol/L; insulin lúc đói 12,2 ± 7,3 microU/mL; chỉ số kháng insulin HOMA-IR 2,9 ± 2,0) [5]. Nhóm nghiên cứu dùng chụp cộng hưởng từ (MRI) đánh giá cơ đùi và mô mỡ xen kẽ giữa các cơ (IMAT), đồng thời lấy mẫu cơ rộng ngoài của 9 người để phân tích lượng lipid nội bào cơ (IMCL) và độ bão hòa của mỡ bằng kính hiển vi [5]. Kết quả cho thấy tỷ lệ thể tích IMAT trên mô cơ (IMAT:MT) tỷ lệ thuận với tỷ lệ axit béo bão hòa trên axit béo không bão hòa trong tế bào cơ, đồng thời tỷ lệ thuận với đường huyết lúc đói và chỉ số HOMA-IR [5]. Đặc biệt, mức độ bão hòa của mỡ trong tế bào cơ (IMCL saturation) có liên quan thuận với đường huyết lúc đói, trong khi diện tích tế bào cơ, diện tích IMCL hay tỷ lệ phần trăm IMCL trong tế bào cơ lại không liên quan đến đường huyết lúc đói [5].

Tiếp nối hướng đi này, một nghiên cứu công bố năm 2025 xác nhận ở cả nam và nữ, sự tích tụ lipid bão hòa trong tế bào cơ (saturated IMCL) có mối liên hệ chặt chẽ với tình trạng kháng insulin toàn thân hơn là chỉ xét tổng nồng độ IMCL đơn thuần [6]. Tuy nhiên, khi phân tích tách biệt mối liên hệ với nhiều kho dự trữ mỡ khác trong cơ thể, mức tích tụ IMCL bão hòa không phải là yếu tố dự báo độc lập có ý nghĩa thống kê cho kháng insulin toàn thân [6]. Dấu hiệu này mang lại giá trị thông tin thực tế không vượt qua các yếu tố dự báo khác là mỡ trong gan (intrahepatic lipid) và mô mỡ nội tạng (visceral adipose tissue) [6]. Dù vậy, vì IMCL bão hòa có liên quan đến mỡ gan và mỡ nội tạng nhưng có biên độ dao động hẹp hơn nhiều, các nhà khoa học không loại trừ vai trò của nó trong cơ chế gây bệnh kháng insulin [6].

Ở nhóm có nguy cơ di truyền, một nghiên cứu năm 2005 đã so sánh 32 người là con của bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 với 32 người đối chứng bằng phương pháp DXA, đo nhiệt lượng gián tiếp, kẹp insulin và phổ cộng hưởng từ (1H-MRS) vùng cơ bắp chân [7]. Những người có bố mẹ mắc tiểu đường bị giảm độ nhạy insulin kèm theo lượng IMCL lúc đói cao hơn (hệ số tương quan Spearman rho = -0,35; p = 0,04) [7]. Tốc độ đốt mỡ lúc đói trung bình không khác biệt giữa hai nhóm (1,21 ± 0,46 so với 1,25 ± 0,37 mg/kg khối lượng cơ thể gầy mỗi phút; p = 0,70) [7]. Tuy nhiên, khi chia theo tứ phân vị tốc độ đốt mỡ lúc đói, những người con nằm ở nhóm đốt mỡ thấp nhất bị suy giảm độ nhạy insulin nặng nhất [7]. Độ nhạy insulin cải thiện dần theo mức tăng tốc độ đốt mỡ ở nhóm con của người bệnh (Spearman rho = 0,47; p = 0,01), nhưng giữ nguyên ở nhóm đối chứng (Spearman rho = 0,13; p = 0,47) [7]. Đáng lưu ý, lượng IMCL ở cơ dép (soleus) và cơ chày trước (tibialis anterior) không thay đổi đáng kể giữa các mức tốc độ đốt mỡ ở cả hai nhóm [7]. Điều này gợi ý suy giảm đốt mỡ là yếu tố gây bệnh nguyên phát ở người có nền tảng di truyền tiểu đường tuýp 2 [7].

Hiểu lầm thường gặp về chế độ ăn và tích mỡ cơ

Nhiều người lầm tưởng mỡ tích trong tế bào cơ và kháng insulin chỉ xảy ra khi ăn quá nhiều chất béo [8]. Một nghiên cứu thiết kế bắt chéo năm 2006 trên những nam giới có thể lực tốt đã bác bỏ quan niệm tuyệt đối này [8]. Các tình nguyện viên trải qua hai phác đồ kéo dài 67 giờ: nhịn ăn hoàn toàn chỉ uống nước (S) và ăn rất ít tinh bột nhưng nhiều chất béo (LC), sau đó so sánh với chế độ ăn hỗn hợp có tinh bột (C) [8]. Nhóm nghiên cứu đo lượng triglyceride nội bào cơ (IMTG/IMCL) bằng phổ 1H-MRS và đánh giá độ nhạy insulin bằng nghiệm pháp dung nạp glucose đường tĩnh mạch lấy mẫu thường xuyên (IVGTT) [8].

Kết quả sau 67 giờ cho thấy mức độ tích tụ IMTG (P = 0,46), tình trạng kháng insulin (P = 0,27) và rối loạn dung nạp đường (P = 0,29) không có sự khác biệt giữa việc nhịn đói hoàn toàn và việc ăn nhiều mỡ ít tinh bột [8]. Lượng mỡ trong cơ có tương quan nghịch với độ nhạy insulin (r = -0,63, P < 0,01) [8]. Nghiên cứu kết luận trên cơ thể người hoàn chỉnh, kháng insulin và tích mỡ cơ không chỉ đơn thuần do lượng mỡ ăn vào, mà phần lớn có thể là hệ quả của phản ứng tăng phân giải mỡ trong cơ thể khi hạn chế nghiêm ngặt tinh bột [8].

Hiểu lầm thứ hai là hễ có nhiều mỡ trong cơ thì đường huyết sẽ tăng. Nghiên cứu năm 2017 chỉ rõ tổng tỷ lệ phần trăm mỡ trong tế bào cơ không liên quan đến đường huyết lúc đói, mà chính tỷ lệ bão hòa của lượng mỡ đó và lượng mỡ xen kẽ giữa các thớ cơ (IMAT) mới là yếu tố liên quan đến đường huyết lúc đói và kháng insulin [5]. Tương tự, nghiên cứu năm 2003 cũng chứng minh chất béo không bão hòa đơn (như oleate) và chất béo bão hòa chuỗi ngắn hơn (laurate, myristate) không gây tích tụ ceramide hay ức chế tín hiệu insulin như nhóm chất béo bão hòa chuỗi dài (palmitate, stearate, arachidate, lignocerate) [3].

Ai nên thận trọng với chất béo bão hòa?

Nhóm đầu tiên cần đặc biệt lưu ý là người trung niên, cao tuổi đang bị thừa cân hoặc béo phì [5]. Quá trình lão hóa thường đi kèm với việc tăng khối lượng mỡ, giảm khối lượng và chất lượng cơ bắp [5]. Ở nhóm đối tượng này, việc tích tụ mỡ xen kẽ giữa các cơ và tăng độ bão hòa của mỡ trong tế bào cơ có liên quan trực tiếp đến sự gia tăng đường huyết lúc đói và chỉ số kháng insulin HOMA-IR [5].

Nhóm thứ hai là những người có tiền sử gia đình (bố hoặc mẹ) mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 [7]. Nghiên cứu chỉ ra nhóm này vốn đã có lượng mỡ trong cơ lúc đói cao hơn và độ nhạy insulin kém hơn so với người bình thường [7]. Nếu khả năng đốt cháy chất béo của cơ thể họ ở mức thấp, tình trạng kháng insulin sẽ càng trở nên trầm trọng [7].

Nhóm thứ ba là những người có lối sống ít vận động, thường xuyên tiêu thụ dư thừa calo kèm theo ăn nhiều chất béo bão hòa hoặc chất béo chuyển hóa (trans fat) vượt mức khuyến nghị [1]. Sự kết hợp giữa lười vận động và ăn thừa mỡ bão hòa làm giảm quá trình luân chuyển lipid tại cơ xương, thúc đẩy tích tụ mỡ độc tính và tăng nguy cơ tiến triển thành tiểu đường tuýp 2 [1]. Những người có bệnh nền chuyển hóa hoặc đang dùng thuốc điều trị cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi thay đổi chế độ ăn hoặc tập luyện.

Áp dụng thực tế để bảo vệ độ nhạy insulin

Phần lớn tình trạng tích tụ mỡ trong tế bào cơ hoàn toàn có thể phòng tránh được vì nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ lối sống [1]. Trong chế độ ăn hằng ngày, cần kiểm soát tổng lượng calo nạp vào để tránh dư thừa năng lượng mãn tính — nguyên nhân khiến mô mỡ trắng bị quá tải và đẩy axit béo sang tích tụ tại cơ và gan [1] [2].

Về lựa chọn chất béo, nên hạn chế các nguồn giàu axit béo bão hòa chuỗi dài (như palmitate, stearate có nhiều trong mỡ động vật) và chất béo chuyển hóa [1] [3]. Có thể thay thế bằng các nguồn chất béo không bão hòa đơn (như oleate), vốn được chứng minh trên mô hình tế bào là không gây tích tụ ceramide, DAG và không ức chế tín hiệu insulin [3]. Đồng thời, cần duy trì chế độ ăn cân bằng, tránh việc nhịn ăn cực đoan hoặc cắt bỏ hoàn toàn tinh bột để ăn thật nhiều mỡ trong thời gian ngắn, vì cả hai cách này đều kích thích phân giải mỡ nội sinh và làm tăng tích tụ mỡ trong cơ dẫn đến kháng insulin [8].

Song song với dinh dưỡng, việc duy trì tập luyện thể dục đều đặn đóng vai trò quyết định [1]. Thiếu vận động làm suy giảm quá trình luân chuyển lipid tại cơ xương [1]. Ngược lại, tăng cường hoạt động thể chất giúp thúc đẩy ty thể đốt cháy axit béo, từ đó cải thiện khả năng vận chuyển đường vào tế bào cơ ngay cả khi cơ đã có biểu hiện kháng insulin [1] [4].

Tóm lại, tiêu thụ quá mức chất béo bão hòa chuỗi dài kết hợp với lối sống ít vận động sẽ gây tích tụ các phân tử mỡ độc tính trong tế bào cơ, làm gián đoạn tín hiệu insulin và tăng nguy cơ tiểu đường tuýp 2 [1] [3]. Để bảo vệ sức khỏe chuyển hóa, mỗi người nên kiểm soát tổng năng lượng nạp vào, ưu tiên chất béo không bão hòa, ăn uống cân bằng và duy trì vận động thể lực hằng ngày [1] [3] [8]. Người có bệnh lý nền hoặc nguy cơ di truyền tiểu đường nên thăm khám và nhận tư vấn trực tiếp từ bác sĩ chuyên khoa [7].