Sau mỗi ca trực thấu đêm tại bệnh viện, không ít bác sĩ và điều dưỡng phải đối mặt với những cơn quặn bụng dữ dội, đầy hơi hoặc tình trạng rối loạn tiêu hóa thất thường. Nhiều nhân viên y tế thường tặc lưỡi cho qua, xem đó chỉ là hậu quả tạm thời của việc thức khuya hay ăn uống thất thường. Tuy nhiên, tình trạng này lặp đi lặp lại rất có thể là dấu hiệu cảnh báo hội chứng ruột kích thích (IBS) – một rối loạn chức năng đường tiêu hóa phổ biến.
Các nghiên cứu khoa học ghi nhận việc thay đổi ca kíp và trực đêm thường xuyên làm tăng đáng kể nguy cơ mắc hội chứng ruột kích thích ở nhân viên y tế [1], [2]. Tình trạng này liên quan chặt chẽ đến sự gián đoạn nhịp sinh học tự nhiên, suy giảm chất lượng giấc ngủ và phản ứng viêm vi thể trong cơ thể [1], [3], [4].
Trục ruột - não và nhịp sinh học bị xáo trộn thế nào?
Hội chứng ruột kích thích là một rối loạn chức năng đường tiêu hóa đặc trưng bởi các triệu chứng đau bụng, chướng bụng, táo bón hoặc tiêu chảy tái phát nhiều lần [1]. Ống tiêu hóa và não bộ liên tục trao đổi thông tin qua hệ thống thần kinh và thể dịch, thường được gọi là trục ruột - não. Hoạt động này chịu sự chi phối chặt chẽ của nhịp sinh học 24 giờ.
Khi nhân viên y tế phải làm việc ca đêm hoặc xoay ca liên tục, sự đồng bộ giữa hệ thống định thời gian sinh học nội sinh và môi trường bên ngoài bị phá vỡ [1]. Sự lệch pha này có thể gây xáo trộn khả năng điều hòa nhu động ruột, làm tăng tính nhạy cảm nội tạng và thay đổi chức năng hàng rào bảo vệ ruột [2].
Bên cạnh đó, việc thức trắng đêm còn làm bùng phát các phản ứng viêm mức độ thấp trong cơ thể [4]. Tình trạng viêm âm thầm này kết hợp với căng thẳng tinh thần kéo dài khiến trục ruột - não phản ứng quá mức, từ đó làm bộc phát các cơn đau thắt bụng và tình trạng đi ngoài thất thường [4], [2].
Bằng chứng từ các nghiên cứu trên nhân viên y tế
Tác động tiêu cực của lịch làm việc ca kíp lên đường ruột đã được chứng minh qua nhiều công trình nghiên cứu trên đối tượng điều dưỡng viên tại các bệnh viện.
Nghiên cứu công bố năm 2010 tiến hành khảo sát trên 399 điều dưỡng trực tiếp chăm sóc bệnh nhân, phân chia thành nhóm làm ca ngày (214 người), ca đêm cố định (110 người) và xoay ca (75 người) [1]. Các đối tượng tham gia được đánh giá bằng bộ tiêu chuẩn chẩn đoán Rome III, thang đo chất lượng cuộc sống IBS-QOL và bảng câu hỏi giấc ngủ Sleep-50 hiệu chỉnh [1].
Kết quả cho thấy nhóm điều dưỡng làm việc xoay ca có tỷ lệ mắc hội chứng ruột kích thích lên tới 48%, cao hơn rõ rệt so với mức 31% ở nhóm làm việc ban ngày [1]. Đặc biệt, tỷ lệ bị đau bụng ở nhóm điều dưỡng xoay ca lên đến 81%, trong khi tỷ lệ này ở nhóm ca ngày là 54% và nhóm ca đêm là 61% [1]. Phân tích hồi quy đa biến đã hiệu chỉnh theo tuổi, giới tính và chất lượng giấc ngủ khẳng định mối liên hệ này hoàn toàn độc lập với chất lượng giấc ngủ [1].
Một nghiên cứu khác thực hiện giai đoạn 2010–2011 tại Bệnh viện Mokdong thuộc Đại học Nữ sinh Ewha (Hàn Quốc) trên 207 điều dưỡng và trợ lý điều dưỡng (gồm 147 người làm việc xoay ca và 60 người làm ca ngày) cũng ghi nhận kết quả tương tự [2]. Tỷ lệ mắc IBS theo tiêu chuẩn Rome III ở nhóm xoay ca là 32,7%, cao gần gấp đôi so với 16,7% ở nhóm ca ngày [2]. Phân tích đa biến chỉ ra làm việc xoay ca làm tăng nguy cơ mắc IBS với tỷ suất chênh OR là 2,36; đồng thời chất lượng giấc ngủ kém làm tăng nguy cơ IBS với OR là 4,13 [2].
Tại Thượng Hải (Trung Quốc), một nghiên cứu năm 2017 trên 468 điều dưỡng làm việc ca ngày hoặc xoay ca sử dụng tiêu chuẩn Rome III và chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (PSQI) đã ghi nhận tỷ lệ giấc ngủ kém ở nhóm xoay ca cao hơn hẳn nhóm ca ngày (50,70% so với 29,95%) [3]. Trong số các điều dưỡng có giấc ngủ kém, tỷ lệ mắc IBS là 35,15% và táo bón chức năng là 11,52% [3]. Sau khi hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu, ngủ kém làm tăng nguy cơ mắc IBS với OR là 1,88 và nguy cơ táo bón chức năng với OR là 1,77 [3].
Ngoài ra, một nghiên cứu tại Bệnh viện Đại học King Abdulaziz (Ả Rập Xê Út) giai đoạn 2014–2015 trên 229 điều dưỡng cho thấy tỷ lệ mắc IBS là 14,4%, trong đó thể hỗn hợp (IBS-M) chiếm đa số với 54,5% [5]. Nghiên cứu xác định các yếu tố dự báo độc lập của IBS gồm có quá mẫn cảm với thức ăn (OR điều chỉnh = 4,52), lo âu bệnh lý (OR điều chỉnh = 4,34) và tiền sử gia đình có người mắc IBS (OR điều chỉnh = 3,38) [5].
Nguy cơ tích lũy khi trực đêm dài hạn: Số liệu quy mô lớn
Không chỉ dừng lại ở các nghiên cứu cắt ngang quy mô nhỏ tại bệnh viện, dữ liệu dịch tễ học theo dõi dài hạn cũng củng cố nguy cơ này.
Nghiên cứu đoàn hệ lớn công bố năm 2025 theo dõi 239.760 người trong cơ sở dữ liệu UK Biobank từ năm 2006–2010 đến ngày 31 tháng 12 năm 2021 [4]. Nghiên cứu sử dụng thông tin nghề nghiệp trọn đời để tính toán thời gian và tần suất làm ca đêm, đồng thời tính toán chỉ số viêm mức độ thấp (INFLA score) từ 5 dấu ấn sinh học tuần hoàn [4].
Kết quả cho thấy nguy cơ mắc IBS tăng dần từ người làm việc ban ngày đến người trực đêm thường xuyên [4]. So với người chỉ làm ca ngày, nhóm thỉnh thoảng trực đêm có nguy cơ IBS cao hơn (HR 1,097), và nhóm thường xuyên/cố định trực đêm có nguy cơ cao hơn 21,3% (HR 1,213) [4]. Chỉ số viêm INFLA đóng vai trò trung gian trong mối liên hệ này với tỷ lệ trung gian 3,6% [4]. Đáng chú ý, những người có thời gian làm ca đêm tích lũy từ 3 năm trở lên có nguy cơ IBS tăng 24,1% (HR 1,241), và những người trực đêm trên 7 ca mỗi tháng đối mặt với nguy cơ IBS tăng 24,8% (HR 1,248) [4].
Cùng năm 2025, một phân tích đoàn hệ khác trên 266.605 người tham gia từ UK Biobank với thời gian theo dõi trung vị 9,03 năm đã ghi nhận 5.218 ca mắc IBS mới [6]. So với nhóm không bao giờ hoặc hiếm khi làm ca đêm, nhóm luôn luôn trực đêm có tỷ số nguy cơ mắc IBS hiệu chỉnh đầy đủ là 1,36 [6]. Phân tích dưới nhóm chỉ ra mối liên hệ này thể hiện rõ rệt ở những cá nhân có chỉ số khối cơ thể BMI từ 25 kg/m2 trở lên [6].
Giới hạn của các bằng chứng khoa học hiện tại
Mặc dù mối liên quan giữa việc trực đêm và nguy cơ mắc IBS là rất rõ nét, các bằng chứng khoa học hiện nay vẫn có những giới hạn nhất định.
Một số nghiên cứu chuyên sâu về hệ vi sinh vật đường ruột nhằm tìm kiếm cơ chế sinh học phân tử vẫn chưa đưa ra kết luận đồng nhất. Nghiên cứu năm 2021 tiến hành giải trình tự gen 16S rRNA từ mẫu phân của 51 điều dưỡng làm ca ngày hoặc ca đêm 12 tiếng trong 14 ngày cho thấy không có sự khác biệt về độ đa dạng alpha hay beta của vi khuẩn đường ruột giữa hai nhóm [7]. Điều này cho thấy sự thay đổi hệ vi khuẩn có thể mang tính chất cục bộ hoặc cơ chế gây bệnh của IBS do trực đêm chịu tác động chủ yếu từ rối loạn điều hòa thần kinh và phản ứng viêm hơn là sự thay đổi hệ vi sinh [7], [4].
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi tự điền, khiến kết quả có thể chịu ảnh hưởng từ sự sai lệch nhớ lại của đối tượng tham gia [1], [2], [5].
Những hiểu lầm thường gặp về rối loạn tiêu hóa khi đi trực
Một hiểu lầm rất phổ biến là cho rằng chỉ cần ngủ bù vào ngày hôm sau thì đường ruột sẽ tự động phục hồi. Dữ liệu từ nghiên cứu năm 2010 đã chứng minh rằng mối liên hệ giữa việc xoay ca và nguy cơ mắc IBS vẫn giữ nguyên ngay cả khi đã hiệu chỉnh kiểm soát yếu tố chất lượng giấc ngủ [1]. Sự lệch pha của đồng hồ sinh học nội sinh vẫn tác động tiêu cực đến nhu động ruột độc lập với thời lượng ngủ [1].
Một sai lầm khác là đánh giá thấp vai trò của kiến thức bệnh học. Nghiên cứu khảo sát năm 2001 trên 100 điều dưỡng chính quy cho thấy dù 75% cảm thấy mình có vai trò vừa hoặc lớn trong tư vấn cho bệnh nhân IBS, chỉ có 13% nắm rõ tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng này [8]. Phần lớn điều dưỡng trong nghiên cứu cũng nhận định các liệu pháp điều trị hiện tại chỉ mang lại hiệu quả hạn chế từ 6% đến 21% tùy theo triệu chứng [8]. Việc thiếu hụt kiến thức khiến nhiều nhân viên y tế chủ quan, không nhận diện được bệnh lý của chính mình để can thiệp kịp thời.
Ai cần đặc biệt thận trọng?
Dựa trên các phân tích dịch tễ học, những nhóm nhân viên y tế sau đây có nguy cơ tổn thương đường tiêu hóa cao hơn đáng kể:
- Nhân viên y tế làm việc xoay ca liên tục hoặc trực đêm với tần suất dày đặc trên 7 ca mỗi tháng [1], [4].
- Những người đã có thâm niên công tác ban đêm tích lũy từ 3 năm trở lên [4].
- Nhân viên y tế thừa cân hoặc béo phì có chỉ số khối cơ thể BMI ≥ 25 kg/m2 [6].
- Những người có tiền sử bản thân quá mẫn cảm với thức ăn, có người thân trong gia đình từng mắc IBS, hoặc đang gặp phải tình trạng lo âu, căng thẳng mức độ nặng và chất lượng giấc ngủ kém kéo dài [3], [2], [5].
Khi xuất hiện các dấu hiệu cảnh báo nghiêm trọng như sụt cân không rõ nguyên nhân, đi ngoài ra máu hoặc đau bụng dữ dội không thuyên giảm, nhân viên y tế cần thăm khám chuyên khoa tiêu hóa để loại trừ các tổn thương thực thể nguy hiểm.
Gợi ý thích ứng thực tế cho nhân viên y tế
Để giảm thiểu tổn thương trục ruột - não trong điều kiện làm việc bắt buộc phải trực đêm, nhân viên y tế có thể áp dụng một số biện pháp thực tế:
- Sắp xếp lịch trực khoa học: Hạn chế tối đa các đợt trực đêm dồn dập vượt quá 7 ca trong một tháng nếu có thể điều chỉnh [4].
- Chú ý chế độ dinh dưỡng trong ca trực: Tránh ăn quá no vào nửa đêm; kiêng các món ăn dễ gây dị ứng hoặc quá mẫn vì yếu tố này làm tăng nguy cơ khởi phát IBS lên gấp 4,52 lần [5].
- Chăm sóc giấc ngủ và giải tỏa tâm lý: Chủ động tạo không gian tối và yên tĩnh khi ngủ bù sau ca trực để cải thiện chất lượng giấc ngủ, hạn chế tình trạng mất ngủ dẫn đến tăng nguy cơ mắc IBS [3], [2]. Thực hành các biện pháp thư giãn để kiểm soát mức độ lo âu và căng thẳng thần kinh [2], [5].
- Kiểm soát thể trạng: Duy trì chế độ vận động hợp lý ngoài giờ làm việc để kiểm soát cân nặng, tránh để chỉ số BMI vượt quá ngưỡng 25 kg/m2 [6].
Áp lực công việc và những ca trực đêm là một phần khó tránh khỏi trong ngành y. Hiểu rõ tác động của nhịp sinh học lên trục ruột - não sẽ giúp đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng chủ động lắng nghe cơ thể, bảo vệ hệ tiêu hóa và duy trì sức khỏe bền bỉ để chăm sóc người bệnh.




