Con gái bước vào tuổi dậy thì và bắt đầu có kỳ kinh nguyệt đầu tiên là cột mốc lớn khiến nhiều bậc phụ huynh vừa mừng vừa lo. Không ít cha mẹ thấy con thường xuyên xanh xao, uể oải sau mỗi chu kỳ nên vội vàng mua viên sắt về tẩm bổ, nhưng lại bối rối không biết liều lượng bao nhiêu là vừa đủ và an toàn.

Về nhu cầu sinh lý thực tế để cơ thể sử dụng mỗi ngày, lượng sắt cần thiết ở bé gái tăng vọt từ mức khoảng 0,7-0,9 mg sắt/ngày trước dậy thì lên tới 2,2 mg sắt/ngày hoặc cao hơn ở những em có lượng kinh nguyệt nhiều [1]. Do sắt từ thực phẩm không thể hấp thu hoàn toàn vào máu, khẩu phần ăn thông thường trung bình 10-11 mg sắt/ngày ở trẻ vị thành niên thường không đủ tạo ra kho dự trữ sắt vững chắc [1]. Trong các chương trình can thiệp cho nữ sinh thiếu sắt hoặc đã hành kinh, phác đồ bổ sung 120 mg sắt nguyên tố mỗi tuần qua đường uống được chứng minh giúp cải thiện rõ rệt nồng độ huyết sắc tố [2].

Vì sao kỳ kinh nguyệt đầu đời làm tăng vọt nguy cơ thiếu máu?

Giai đoạn vị thành niên là thời kỳ cơ thể bứt phá mạnh mẽ về tốc độ tăng trưởng thể chất và định hình các đặc điểm sinh học của người trưởng thành [1]. Trong giai đoạn này, nhu cầu sắt tăng đột ngột ở cả nam và nữ do sự mở rộng tổng thể tích máu và sự gia tăng khối lượng cơ nạc [1]. Đối với các bé gái, sự xuất hiện của chu kỳ kinh nguyệt cộng hưởng thêm áp lực mất máu định kỳ lên kho dự trữ sắt của cơ thể [3]. Ngoài ra, thói quen ăn kiêng để giảm cân ở tuổi mới lớn cũng là nguyên nhân chính đẩy nhanh tình trạng thiếu hụt vi chất này [3].

Khi lượng sắt cung cấp không đuổi kịp tốc độ phát triển và lượng máu mất đi, cơ thể sẽ rơi vào trạng thái cân bằng sắt âm [1]. Tình trạng thiếu sắt (đánh giá qua nồng độ ferritin huyết thanh thấp) rất phổ biến ở nữ giới tuổi vị thành niên, ảnh hưởng đến khoảng 25% đến 39% các em gái trong độ tuổi 10-19 [4]. Nếu kho dự trữ sắt cạn kiệt kéo dài, trẻ sẽ suy giảm khả năng lao động thể chất, ảnh hưởng chức năng nhận thức và kết quả học tập ở trường [2]. Về lâu dài, lượng dự trữ sắt thấp ở tuổi dậy thì khiến các em dễ bị thiếu máu thiếu sắt khi mang thai sau này, vì lúc đó chế độ ăn đơn thuần hầu như không thể đáp ứng kịp nhu cầu thai kỳ [1].

Các nghiên cứu khoa học nói gì về sắt và chu kỳ kinh ở nữ sinh?

Nhiều công trình nghiên cứu tại các quốc gia đã đo lường trực tiếp mối liên hệ giữa chu kỳ kinh nguyệt, chế độ ăn và chỉ số máu của nữ sinh. Một nghiên cứu công bố năm 2007 trên nhóm nữ sinh trung học cơ sở đã so sánh các chỉ số sinh hóa giữa nhóm bình thường và nhóm thiếu máu [4]. Kết quả cho thấy nhóm nữ sinh thiếu máu có nồng độ huyết sắc tố (hemoglobin) đạt 10,84 ± 1,17 g/dl, sắt huyết thanh đạt 35,15 ± 27,47 microg/100ml và ferritin huyết thanh (chỉ số phản ánh sắt dự trữ) ở mức 20,53 ± 42,29 microg/l, tất cả đều thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm bình thường [4]. Ngược lại, tổng khả năng gắn sắt (TIBC - thông số thường tăng lên khi cơ thể "đói" sắt) ở nhóm thiếu máu tăng cao lên mức 449,30 ± 64,87 microg/100ml [4]. Nghiên cứu này chỉ ra rằng độ tuổi bắt đầu có kinh nguyệt càng sớm, thời gian hành kinh càng dài và lượng máu kinh càng nhiều thì tình trạng sắt và hemoglobin càng thấp [4]. Biểu hiện lâm sàng rõ nhất ở nhóm thiếu máu là triệu chứng sắc mặt nhợt nhạt và dễ bị cảm lạnh [4].

Một nghiên cứu công bố năm 2000 phân tích chuyên sâu về nhu cầu sắt ở nữ vị thành niên cho thấy nhu cầu sắt tổng thể tăng từ mức tiền dậy thì khoảng 0,7-0,9 mg sắt/ngày lên đến 2,2 mg sắt/ngày hoặc hơn ở người ra máu kinh nhiều [1]. Dữ liệu khẩu phần chỉ ra nữ sinh khó tích lũy đủ sắt dự trữ vì lượng sắt ăn vào trung bình chỉ đạt 10-11 mg/ngày, lại thêm tỷ lệ hấp thu sinh học từ thức ăn hạn chế tại cả các nước đang phát triển lẫn công nghiệp hóa [1].

Để đánh giá hiệu quả bổ sung sắt đường uống, một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng giả dược, mù đôi công bố năm 2009 đã thực hiện trên 279 nữ sinh từ 12-18 tuổi tại các trường tiểu học công lập ở miền tây Kenya [2]. Các em được chia nhóm uống 120 mg sắt nguyên tố và 25.000 IU vitamin A mỗi tuần trong vòng 5 tháng [2]. Kết quả cho thấy việc bổ sung sắt hàng tuần giúp tăng nồng độ hemoglobin thêm 0,52 g/dl so với nhóm dùng giả dược [2]. Đáng chú ý, hiệu quả tăng hemoglobin thể hiện rõ ở nhóm nữ sinh vốn đã thiếu sắt từ đầu (tăng 1,34 g/dl) và nhóm đã có kinh nguyệt, nhưng lại không mang lại sự gia tăng ở nhóm đã đủ sắt (giảm 0,20 g/dl) hoặc chưa có kinh nguyệt [2]. Tác dụng của sắt hoàn toàn độc lập với vitamin A, và việc uống vitamin A hàng tuần không tạo ra mức tăng hemoglobin bền vững [2]. Một giới hạn quan trọng tại vùng dịch tễ này là tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét ở nhóm uống sắt có xu hướng cao hơn nhóm giả dược [2].

Tại Ấn Độ, một nghiên cứu cắt ngang năm 2024 trên 221 nữ sinh nông thôn từ 14-19 tuổi tại 24 cơ sở giáo dục công lập ở quận Nagpur ghi nhận 57% bị thiếu máu, 60% suy dinh dưỡng theo chỉ số khối cơ thể (BMI) và 84% thiếu ít nhất một vi chất [5]. Tỷ lệ thiếu sắt, thiếu vitamin B12 và thiếu folate lần lượt là 37,7%, 69,8% và 1,4% [5]. Chỉ có 3% nữ sinh ăn thực phẩm có nguồn gốc động vật hàng ngày, 3,6% ăn rau lá xanh hàng ngày và chỉ 9% có uống viên sắt - axit folic trong hai tuần trước khảo sát [5]. Tiếp đó, một nghiên cứu cộng đồng cắt ngang công bố năm 2025 tại quận Yadadri-Bhuvanagiri (Ấn Độ) cũng cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở nữ cao gấp đôi nam (41,2% so với 20,9%) và thiếu sắt ở nữ là 39,5% so với 9,8% ở nam [6]. Đặc biệt, nữ sinh đang trong độ tuổi hành kinh có tỷ lệ thiếu máu lên tới 44,6% (so với 12,1% ở nhóm chưa hành kinh) và tỷ lệ thiếu sắt là 42,3% (so với 21,2%) [6]. Nhóm nữ sinh lớn tuổi (15-19 tuổi) bị thiếu máu nhiều hơn nhóm 10-14 tuổi, tương ứng 50% so với 28,9% [6].

Bức tranh đa chiều từ chế độ ăn và giới hạn của bằng chứng

Không phải lúc nào chế độ ăn thuần thực vật hoặc ăn đủ chất đạm cũng phản ánh giống nhau về tình trạng thiếu máu ở mọi cộng đồng. Một nghiên cứu cắt ngang năm 2019 thực hiện trên 257 nữ sinh không mang thai (15-19 tuổi) tại vùng nông thôn Huruta, Ethiopia, nơi có chế độ ăn chủ yếu dựa vào thực vật, rất ít thịt cá, trái cây và rau xanh đậm [7]. Dù chỉ 4% nữ sinh đạt điểm đa dạng chế độ ăn và 35% bị nhẹ cân, tỷ lệ thiếu máu (hemoglobin dưới 11 g/dL) và thiếu sắt lâm sàng (ferritin dưới 15 microg/L) đều ở mức thấp là 8,7% [7]. Tuy nhiên, có tới 41% nữ sinh rơi vào tình trạng dự trữ sắt ở mức ranh giới cạn kiệt (ferritin dưới 50 microg/L) [7]. Các nhà nghiên cứu nhận định đây là hiện tượng không điển hình và cần có chiến lược riêng để giải quyết kho dự trữ sắt thấp [7].

Trong khi đó, một nghiên cứu cắt ngang công bố năm 2022 tại vùng nông thôn Jatinangor, Indonesia khảo sát 95 nữ vị thành niên và 85 phụ nữ trưởng thành từ 7 ngôi làng trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2018 [8]. Kết quả cho thấy tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt ở nữ vị thành niên là 21,1% (mức hemoglobin trung bình 10,75 ± 0,79 g/dL), cao hơn mức 9,4% ở phụ nữ trưởng thành (hemoglobin trung bình 11,20 ± 0,61 g/dL) [8]. Dù đa số người tham gia không bị thấp còi và có cân nặng bình thường, việc tiêu thụ đủ chất đạm vẫn không ngăn ngừa được tình trạng thiếu máu do sự thiếu cân đối tổng thể giữa các chất đa lượng và vi lượng [8].

Những dữ liệu trên cho thấy phần lớn các nghiên cứu dịch tễ học hiện nay sử dụng thiết kế cắt ngang tại một thời điểm [5]. Thiết kế này giúp chụp lại bức tranh thực trạng và các yếu tố liên quan nhưng có giới hạn là không theo dõi được diễn tiến lâu dài của từng cá nhân như các thử nghiệm lâm sàng.

Những hiểu lầm thường gặp khi bổ sung sắt cho trẻ dậy thì

Hiểu lầm phổ biến nhất là cứ thấy trẻ xanh xao, thiếu máu thì mặc định nguyên nhân duy nhất là thiếu sắt. Thực tế, thiếu máu ảnh hưởng tới khoảng 2 tỷ người trên thế giới với nguyên nhân rất đa dạng, từ thiếu hụt các vi chất khác, nhiễm trùng mạn tính cho đến các rối loạn huyết sắc tố di truyền [7]. Dù trước đây người ta thường giả định tới 50% gánh nặng thiếu máu là do thiếu sắt, các dữ liệu gần đây cho thấy tỷ lệ thiếu máu thực sự do thiếu sắt có thể thấp hơn nhận định cũ [7].

Một nghiên cứu công bố năm 2005 tại Thổ Nhĩ Kỳ đã sàng lọc 2.900 bệnh nhân từ 9-17 tuổi tại phòng khám ngoại trú thanh thiếu niên từ tháng 11/1999 đến tháng 6/2000 [3]. Khi xét nghiệm công thức máu phát hiện 44 trường hợp thiếu máu, các bác sĩ kiểm tra sâu hơn và thấy chỉ có 21 em (15 nữ, 6 nam) là thiếu máu thiếu sắt thực sự [3]. Có tới 19 em (15 nữ, 4 nam) bị thiếu máu liên quan đến nhiễm trùng, 3 em (2 nữ, 1 nam) mang gen bệnh tan máu bẩm sinh beta-thalassemia và 1 bé gái mắc bệnh bạch cầu cấp dòng tủy [3].

Bên cạnh đó, thiếu vitamin B12 cũng là thủ phạm lớn gây thiếu máu ở nữ sinh nhưng hay bị bỏ sót. Trong nghiên cứu năm 2024 tại Ấn Độ, có tới 67,5% nữ sinh thiếu máu bị thiếu hụt vitamin B12 [5]. Nghiên cứu năm 2025 cũng ghi nhận gần 3/4 (77,4%) thanh thiếu niên thiếu vitamin B12 [6]. Hiểu lầm tiếp theo là tự ý cho trẻ uống sắt dự phòng càng nhiều càng tốt. Thử nghiệm tại Kenya năm 2009 đã chứng minh việc uống sắt hàng tuần không làm tăng huyết sắc tố ở những bé gái chưa có kinh nguyệt hoặc cơ thể đã đủ sắt [2].

Ai nên thận trọng khi dùng viên sắt?

Nhóm đầu tiên cần đặc biệt thận trọng là những bé gái có biểu hiện thiếu máu nhưng chưa được xét nghiệm tìm nguyên nhân gốc rễ. Như nghiên cứu năm 2005 đã chỉ ra, các thông số xét nghiệm đơn lẻ đôi khi chưa đủ để kết luận thiếu sắt, mà bác sĩ phải đánh giá tổng thể độ tuổi, giới tính, tốc độ tăng trưởng, giai đoạn trưởng thành sinh dục, tuổi xương, tiền sử nhiễm ký sinh trùng và triệu chứng tiêu hóa [3].

Đặc biệt, những trẻ mang gen bệnh tan máu bẩm sinh (như beta-thalassemia) hoặc có bệnh lý ác tính về máu tuyệt đối không được tự ý nạp sắt khi chưa có chỉ định y khoa [3]. Ngoài ra, tại các khu vực lưu hành dịch sốt rét, việc bổ sung sắt đại trà cần được cân nhắc kỹ vì có thể đi kèm xu hướng tăng tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét trong máu [2]. Những bé gái chưa bắt đầu hành kinh và có kho dự trữ sắt bình thường cũng không cần uống viên sắt liều cao vì không mang lại thêm lợi ích tạo máu [2]. Nếu trẻ có bệnh nền hoặc đang dùng thuốc điều trị, phụ huynh bắt buộc phải hỏi ý kiến bác sĩ trước khi cho con dùng bất kỳ chế phẩm bổ sung nào.

Áp dụng thực tế: Bổ sung thế nào cho đúng và an toàn?

Để dự phòng thiếu máu cho bé gái mới dậy thì, nền tảng đầu tiên vẫn là xây dựng chế độ ăn cân bằng và đa dạng thực phẩm mỗi ngày [3]. Khẩu phần ăn chỉ dựa vào thực vật hoặc chỉ chú trọng chất đạm riêng lẻ sẽ không đủ ngăn ngừa thiếu máu [8]. Phụ huynh cần tăng cường các thực phẩm nguồn gốc động vật (thịt đỏ, cá, trứng) và rau lá xanh đậm vào bữa ăn hàng ngày của trẻ [5]. Điều này không chỉ cung cấp sắt có độ hấp thu sinh học tốt hơn mà còn bổ sung vitamin B12 và folate — hai vi chất đồng hành quan trọng giúp ngăn ngừa thiếu máu ở tuổi 10-19 [6]. Đồng thời, cha mẹ cần khuyên con tránh các trào lưu nhịn ăn, ăn kiêng ép cân tiêu cực trong giai đoạn cơ thể đang cần tạo máu mạnh mẽ [3].

Về việc dùng viên uống bổ sung, đối với các bé gái đã có kinh nguyệt hoặc được xác định thiếu sắt, phác đồ bổ sung định kỳ hàng tuần (chẳng hạn mức 120 mg sắt nguyên tố/tuần trong các chương trình học đường hoặc viên kết hợp sắt và axit folic theo hướng dẫn y tế) là giải pháp hiệu quả để nâng mức huyết sắc tố [2]. Phụ huynh nên chú ý theo dõi các dấu hiệu sớm ở con như da xanh xao, sắc mặt nhợt nhạt, hay mệt mỏi, dễ cảm lạnh hoặc kỳ kinh kéo dài, lượng máu ra nhiều để đưa trẻ đi kiểm tra máu định kỳ [4].

Tóm lại, sự xuất hiện của kỳ kinh nguyệt làm nhu cầu sắt sinh lý của bé gái tăng gấp gần ba lần so với trước dậy thì, đòi hỏi sự bù đắp kịp thời từ dinh dưỡng [1]. Tuy nhiên, thiếu máu tuổi dậy thì không chỉ do thiếu sắt mà còn liên quan mật thiết đến vitamin B12 và các bệnh lý tiềm ẩn khác [5]. Một thực đơn đa dạng giàu thực phẩm động vật, rau xanh kết hợp thăm khám bác sĩ để bổ sung sắt đúng đối tượng sẽ giúp các em đi qua tuổi dậy thì khỏe mạnh, hồng hào.