Nhiều người khi được chẩn đoán mắc bệnh Basedow (bệnh cường giáp tự miễn) thường mang tâm lý lo lắng sâu sắc về tương lai của con cái. Câu hỏi liệu căn bệnh này có truyền thẳng sang thế hệ sau hay không là mối băn khoăn rất phổ biến tại các phòng khám nội tiết.
Câu trả lời ngắn gọn là bệnh Basedow không di truyền trực tiếp theo kiểu cha mẹ mắc bệnh thì chắc chắn con cái sẽ bị bệnh [1]. Thay vào đó, người bệnh chỉ truyền lại tính nhạy cảm di truyền (nguy cơ gen), đặc biệt là các biến thể thuộc hệ thống kháng nguyên bạch cầu người (HLA), và bệnh chỉ bộc phát khi kết hợp với yếu tố môi trường [2] [1].
Cơ chế di truyền bệnh Basedow hoạt động thế nào?
Bệnh Basedow được xác định là một rối loạn đa yếu tố phức tạp, bắt nguồn từ sự tương tác qua lại giữa các gen mẫn cảm, yếu tố nội sinh và các tác nhân từ môi trường bên ngoài [1]. Điều này có nghĩa là không tồn tại một "gen gây bệnh Basedow" đơn lẻ nào quyết định hoàn toàn việc một đứa trẻ sinh ra sẽ mắc bệnh [1] [3].
Về mặt di truyền học miễn dịch, hệ thống kháng nguyên bạch cầu người (HLA) đóng vai trò trung tâm trong việc nhận diện và phản ứng miễn dịch của cơ thể [2] [3]. Locus gen HLA đầu tiên được phát hiện có liên quan đến bệnh Basedow là HLA-DR [3]. Bên cạnh HLA, các nhà khoa học cũng đã ghi nhận nhiều locus gen ngoài HLA khác tham gia điều hòa miễn dịch và chức năng tuyến giáp như CTLA-4, CD40, PTPN22, thyroglobulin và thụ thể hormone kích thích tuyến giáp (TSHR) [3]. Dù vậy, các nghiên cứu quét toàn bộ bộ gen trên những gia đình có nhiều người mắc bệnh vẫn chưa xác định được một gen then chốt duy nhất có khả năng chi phối hoàn toàn bệnh lý này [1] [4].
Bằng chứng gia đình và các nghiên cứu khoa học
Sự tập trung của bệnh trong các gia đình và tỷ lệ đồng mắc ở các cặp song sinh cùng trứng cao hơn so với song sinh khác trứng là minh chứng rõ nét cho vai trò của di truyền [1] [4]. Tuy nhiên, các phân tích gần đây cho thấy mức độ ảnh hưởng của yếu tố song sinh này thực tế không quá cao như quan niệm trước đây [1] [4].
Năm 1985, một nghiên cứu lâm sàng và gia đình thực hiện tại miền Đông Hungary trên 1.980 người thân của 534 bệnh nhân Basedow đã đưa ra những con số cụ thể về tỷ lệ mắc bệnh [5]. Kết quả ghi nhận có 2,9% anh chị em ruột, 2,7% con cái và 3,0% cha mẹ của người bệnh cũng mắc bệnh Basedow [5]. Khi phân tích các cặp anh chị em cùng mắc bệnh, nghiên cứu phát hiện có 43 cặp mang chung 2 haplotype HLA, 23 cặp mang chung 1 haplotype và chỉ có 1 cặp không mang chung haplotype nào [5]. Phân bố này không phù hợp với quy luật di truyền trội đơn giản, mà phù hợp với mô hình di truyền lặn với tần số gen từ 0,2 đến 0,4, trong đó tần số 0,3 tương ứng với độ thấm của kiểu gen mẫn cảm lặn là 7,1% (tối đa lên đến 16%) [5]. Đáng chú ý, nghiên cứu ước tính rằng một phụ nữ mang kháng nguyên DR3 và có người thân cấp một mắc bệnh sẽ có xác suất mắc Basedow là 14,9% [5].
Cùng năm 1985, một nghiên cứu tại Hồng Kông tiến hành phân tích mối liên kết HLA trên 10 gia đình người Trung Quốc có nhiều thành viên mắc bệnh nhiễm độc giáp Basedow [6]. Nghiên cứu này không tìm thấy bằng chứng ủng hộ cơ chế di truyền trội hay lặn rõ ràng của tính nhạy cảm liên kết HLA [6]. Tuy nhiên, có tới 6 trong số 10 cặp cha mẹ - con cái cùng mắc bệnh sở hữu các haplotype chứa kháng nguyên HLA Bw46, mức độ này cao hơn hẳn so với tần suất kháng nguyên Bw46 ở nhóm đối chứng bình thường [6].
Đến năm 2007, một công trình nghiên cứu đoàn hệ gia đình quy mô lớn trên 208 gia đình bộ ba (109 gia đình tại Tây Ban Nha và 99 gia đình tại Đức, tổng cộng 624 cá nhân) đã làm rõ hơn sự di truyền của các biến thể HLA-DQ [2]. Nghiên cứu phát hiện ra rằng các haplotype HLA DQA1*0501 và DQA1*0501-DQB1*0201 (DQ2) có xu hướng truyền trội đáng kể từ cha mẹ sang những người con bị bệnh (lần lượt là 204 ca truyền so với 131 ca không truyền, p = 0,0057; và 109 ca so với 55 ca, p = 0,0036) [2]. Thú vị hơn, các haplotype nguy cơ này có xu hướng được truyền ưu tiên từ phía người cha, và DQA1*0501-DQB1*0301 (DQ7) cũng chiếm tỷ lệ phổ biến hơn ở những người cha (24,0% so với 17,1%, p = 0,0162) [2].
Cũng trong năm 2007, một báo cáo phả hệ tại Nhật Bản trên một gia đình có nhiều thành viên mắc bệnh đã ghi nhận trường hợp bệnh nhân nữ 17 tuổi được chẩn đoán mắc Basedow từ năm 15 tuổi với nồng độ TSH < 0,015 IU/ml, T3 tự do 13,6 pg/ml, T4 tự do 4,51 ng/dl và kháng thể TRAb lên tới 94,1% [7]. Hai người em trai của bệnh nhân cũng khởi phát bệnh ở độ tuổi thanh thiếu niên (13 và 18 tuổi) với nồng độ TRAb lần lượt là 49,1% và 48,4% [7]. Bệnh sử gia đình cho thấy bệnh tập trung ở nhánh họ ngoại (hai người dì và một người chị họ cùng mắc bệnh ở tuổi thiếu niên), trong khi nhánh họ nội hoàn toàn không có ai mắc [7]. Các thành viên nhánh ngoại mang các haplotype DRB1*150101 và DQB1*0602 (riêng người chị họ mang DRB1*140301 và DQB1*030101), ngoài ra có hai ca mắc còn mang thêm DRB1*40501 và DQB1*0401 [7].
Tương tác giữa gen và yếu tố môi trường
Việc mang gen nhạy cảm chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải điều kiện đủ để bệnh Basedow bộc phát [6] [8]. Một nghiên cứu năm 1996 trên 35 thành viên thuộc 3 dòng họ có tỷ lệ mắc Basedow cao (11 người mắc bệnh) đã chỉ ra sự kết hợp nguy hiểm giữa gen và tác nhân bên ngoài [8]. Nghiên cứu đánh giá sự hiện diện của kháng thể chống lại hạt retrovirus dạng A nội bào ở người (HIAP) cùng với các alen HLA lớp II [8].
Kết quả cho thấy trong 3 dòng họ có lần lượt 8, 4 và 5 người mang gen mẫn cảm HLA, và có 11, 5 và 9 người có bằng chứng miễn dịch từng tiếp xúc với retrovirus [8]. Ở nhóm 15 thành viên mang đồng thời cả hai yếu tố (gen nhạy cảm và kháng thể kháng HIAP), tỷ lệ mắc bệnh Basedow thực sự lên tới 100% ở gia đình thứ nhất, 67% ở gia đình thứ hai và 80% ở gia đình thứ ba (mối liên quan có ý nghĩa thống kê rất cao với p < 0,001) [8]. Thêm vào đó, có 1 thành viên ở gia đình thứ hai và 3 thành viên ở gia đình thứ ba có cả hai yếu tố này dù chưa phát bệnh hoàn toàn nhưng đã có bất thường huyết thanh học, bướu cổ hoặc dấu hiệu ở mắt phù hợp với giai đoạn tiền lâm sàng [8].
Hiểu lầm thường gặp về di truyền Basedow
Nhiều người lầm tưởng rằng cha mẹ bị Basedow thì chắc chắn con sinh ra cũng sẽ mắc bướu cổ lồi mắt. Thực tế khoa học khẳng định bệnh không di truyền đơn thuần theo quy luật Mendel thẳng dòng [6] [5].
Tỷ lệ con cái mắc bệnh từ cha hoặc mẹ bị Basedow trên thực tế chỉ dao động quanh mức 2,7% [5]. Rất nhiều người mang các biến thể HLA nguy cơ nhưng suốt đời không bao giờ biểu hiện bệnh vì họ không gặp phải các yếu tố kích hoạt môi trường phù hợp [8] [3]. Do đó, phụ huynh không nên quá hoang mang hay mang tâm lý tự trách khi mắc bệnh.
Ai nên thận trọng và tầm soát sớm?
Những người có tiền sử gia đình thế hệ thứ nhất (cha, mẹ, anh chị em ruột) mắc bệnh Basedow nên nâng cao sự chú ý về sức khỏe nội tiết của bản thân và con cái [5]. Đặc biệt, nữ giới có người thân trực hệ mắc bệnh và mang kiểu gen HLA-DR3 có nguy cơ mắc bệnh cao hơn, khoảng 14,9% [5].
Bên cạnh đó, các gia đình có yếu tố bệnh tập trung ở nhánh họ ngoại hoặc có các thành viên khởi phát bệnh sớm ở lứa tuổi thanh thiếu niên cũng là nhóm cần lưu tâm theo dõi các triệu chứng bất thường ở lứa tuổi này [7]. Khi trẻ bước vào tuổi dậy thì hoặc thanh thiếu niên, nếu xuất hiện các triệu chứng như sụt cân không rõ nguyên nhân, hồi hộp đánh trống ngực, run tay, cổ to hoặc mắt lồi, gia đình cần đưa trẻ đi kiểm tra chuyên khoa sớm [7].
Lời khuyên áp dụng trong cuộc sống
Mặc dù không thể thay đổi hệ gen HLA mà cha mẹ truyền cho, việc kiểm soát lối sống và môi trường có ý nghĩa quyết định trong việc ngăn chặn bệnh biểu hiện [1] [8].
Các thành viên trong gia đình có người mắc Basedow cần xây dựng lối sống lành mạnh, tránh căng thẳng kéo dài, ngủ đủ giấc và vận động đều đặn để duy trì hệ miễn dịch ổn định. Chế độ ăn uống cần lưu ý bổ sung lượng iod hợp lý, tránh việc lạm dụng quá nhiều thực phẩm giàu iod hoặc các loại thực phẩm chức năng không rõ nguồn gốc có thể gây rối loạn chức năng tuyến giáp. Chủ động phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm vi-rút và khám sức khỏe định kỳ định kỳ là cách tốt nhất để phát hiện sớm các bất thường kháng thể hoặc chức năng tuyến giáp [8] [7]. Khi có nghi ngờ hoặc có biểu hiện run tay, mệt mỏi, sụt cân, cần đến khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa nội tiết thay vì tự ý điều trị.
Kết luận
Bệnh Basedow không di truyền trực tiếp bệnh học sang con cái mà chỉ truyền lại tính nhạy cảm di truyền qua các tổ hợp gen như hệ HLA [2] [1]. Nguy cơ mắc bệnh ở con cái thực tế khá thấp và cần có sự cộng hưởng từ các yếu tố môi trường để kích hoạt bệnh [8] [5]. Hiểu đúng bản chất di truyền đa yếu tố giúp các bậc phụ huynh cởi bỏ gánh nặng tâm lý và chủ động chăm sóc sức khỏe cho thế hệ sau một cách khoa học, đúng đắn.




