Nhiều người tập luyện chạy bộ lâu năm khi đi khám sức khỏe, siêu âm tim hoặc đo điện tim thường hoang mang khi nhận kết quả buồng tim giãn nhẹ hoặc thành tim dày hơn bình thường. Nỗi sợ hãi lớn nhất là liệu việc tập luyện bền bỉ này có đang làm tổn thương cơ tim, gây phì đại bệnh lý hay dẫn tới nguy cơ đột tử hay không.

Thực tế y học cho thấy hiện tượng biến đổi kích thước buồng tim và độ dày thành tim ở người tập luyện thể thao thường xuyên phần lớn là một sự thích nghi sinh lý hoàn toàn lành tính, được y văn gọi là hội chứng "tim vận động viên" (athlete's heart) [1]. Hiện tượng này khác biệt hoàn toàn về bản chất, cơ chế hoạt động cũng như tiên lượng sống so với các bệnh lý tim mạch nguy hiểm như bệnh cơ tim phì đại hay tổn thương do tăng huyết áp mạn tính [2].

"Tim vận động viên" là gì và vì sao buồng tim lại to ra?

Khi một cá nhân tham gia vào các bài tập vận động thể chất đều đặn và cường độ cao, cơ thể đòi hỏi một lượng máu và oxy dồi dào hơn nhiều lần để nuôi các khối cơ bắp vận động. Để đáp ứng với tải trọng huyết động tăng cao này, cơ tim buộc phải có những điều chỉnh về mặt giải phẫu học [1]. Sự thích nghi này bao gồm việc tăng đường kính bên trong của buồng tim (giãn buồng thất) hoặc tăng bề dày của thành cơ tim [1].

Tùy thuộc vào loại hình bài tập là nâng tạ kháng lực (tải áp lực) hay chạy bền (tải thể tích), cơ tim sẽ có những kiểu thích nghi riêng biệt [1], [3]. Ở những người tập luyện sức bền như chạy cự ly dài, tim chủ yếu phát triển theo dạng phì đại lệch tâm (eccentric hypertrophy), nghĩa là buồng thất trái giãn rộng ra kết hợp với thành tim dày lên một cách hài hòa để bơm được nhiều máu hơn trong mỗi nhịp co bóp [3].

Nghiên cứu tổng quan phân tích gộp năm 1997 đã chỉ ra rằng khối lượng cơ thất trái ở các vận động viên đua xe đạp tăng trung bình tới 64%, ở người chạy bộ đường dài tăng 48% và ở vận động viên thể thao dùng sức mạnh tăng 25% khi so với người bình thường không tập luyện [3]. Mặc dù tim có sự thay đổi kích thước đáng kể như vậy, chức năng co bóp tống máu (tâm thu) và chức năng giãn nhận máu (tâm trương) của thất trái lúc nghỉ ngơi ở các vận động viên hoàn toàn bình thường, không hề bị suy giảm [3].

Cơ chế sinh lý đằng sau bước chuyển mình của trái tim chạy bộ

Quá trình chạy bộ cự ly dài đưa một thể tích máu hồi lưu rất lớn từ các chi trở về tim. Nghiên cứu thực nghiệm so sánh năm 1981 giữa 19 vận động viên chạy cự ly dài và 19 người ít vận động cùng tuổi, cùng giới đã làm sáng tỏ cơ chế này [4]. Kết quả đo đạc lúc nghỉ và sau 12 phút chạy trên thảm lăn ghi nhận nhịp tim và huyết áp của nhóm vận động viên đều thấp hơn rõ rệt so với nhóm chứng (P < 0,001) [4].

Khi bước vào bài kiểm tra vận động, trái tim của người chạy bộ thích ứng bằng cách tăng mạnh thể tích cuối tâm trương và thể tích nhát bóp của thất trái, trong khi nhịp tim chỉ tăng ở mức độ vừa phải [4]. Trái lại, ở nhóm người ít vận động, tim không thể giãn thể tích nhát bóp hiệu quả mà chỉ bù đắp lượng máu thiếu hụt bằng cách tăng vọt nhịp tim [4]. Khối lượng cơ thất trái của nhóm chạy bộ trong nghiên cứu này lớn hơn nhóm đối chứng tới 60% do hiện tượng phì đại thích nghi (P < 0,001) [4]. Bề dày thành thất phải ở nhóm chạy bộ cũng đạt mức từ 6 mm trở lên, trong khi ở nhóm ít vận động chỉ từ 5 mm trở xuống [4].

Một nghiên cứu khác thực hiện năm 1979 đã so sánh trực tiếp tác động tim mạch giữa các hình thức chạy khác nhau trên 22 nam vận động viên thi đấu (gồm 10 người chạy nước rút và 12 người chạy sức bền) cùng 13 nam giới ít vận động [5]. Cả hai nhóm chạy cự ly ngắn và chạy sức bền đều có thể tích cuối tâm trương thất trái lớn hơn người bình thường (P < 0,005) [5]. Tuy nhiên, các vận động viên chạy sức bền có hiện tượng phì đại thất trái trên điện tim rõ nét hơn (P < 0,05), kích thước bóng tim trên phim X-quang ngực lớn hơn (P < 0,02), bề dày thành tim và khối lượng cơ tim cũng cao hơn hẳn nhóm chạy cự ly ngắn (P < 0,001) [5].

Đặc biệt, nhóm chạy sức bền còn tăng tỷ lệ phần trăm thay đổi đường kính trục nhỏ trong thì tâm thu (P < 0,02) thể hiện khả năng tống máu vượt trội, đồng thời ghi nhận buồng nhĩ trái giãn rộng hơn so với nhóm chạy nước rút và nhóm ít vận động (P < 0,001), phản ánh sự thích nghi về thể tích chứa máu [5].

Phân biệt buồng tim vận động viên với phì đại bệnh lý

Nỗi lo lắng lớn nhất của người chạy bộ là nhầm lẫn hiện tượng tim to lành tính với tình trạng cơ tim dày lên do bệnh lý, điển hình là bệnh cơ tim phì đại hoặc bệnh tim do tăng huyết áp mạn tính. Mặc dù cùng biểu hiện thành tim dày hoặc khối lượng cơ tim tăng, sự khác biệt nằm ở khả năng hoạt động chức năng của quả tim [2].

Nghiên cứu lâm sàng công bố năm 2001 đã phân tích chức năng tim trên 42 vận động viên có phì đại thất trái sinh lý do tập sức bền (tuổi trung bình 25 ± 7), 31 bệnh nhân phì đại thất trái do bệnh tim tăng huyết áp (tuổi trung bình 28 ± 6) và 20 người khỏe mạnh không tập luyện (tuổi trung bình 26 ± 8) [2]. Cả hai nhóm vận động viên và nhóm tăng huyết áp đều có khối lượng cơ tim thất trái tăng cao tương đương nhau (nhóm vận động viên đạt 225 ± 18 g; nhóm bệnh nhân tăng huyết áp đạt 216 ± 16 g so với 119 ± 12 g ở nhóm chứng thông thường) [2]. Cả ba nhóm đều duy trì phân suất co rút cơ thất trái trong giới hạn bình thường [2].

Điểm khác biệt mấu chốt được bộc lộ qua siêu âm tim Doppler đo lường dòng chảy tâm trương [2]. Ở các vận động viên mang phì đại sinh lý, mô hình đổ đầy tâm trương thất trái hoàn toàn bình thường, cơ tim giãn ra mềm mại để đón nhận dòng máu với vận tốc dòng đổ đầy sớm tâm trương VE đạt 0,64 ± 0,1 m/s và vận tốc dòng muộn VA đạt 0,51 ± 0,2 m/s [2]. Ngược lại, ở bệnh nhân tăng huyết áp, cơ tim bị xơ cứng và suy giảm chức năng tâm trương nghiêm trọng với mô hình giãn trễ: vận tốc đổ đầy sớm VE tụt giảm xuống chỉ còn 0,45 ± 0,09 m/s, buộc quả tim phải bù trừ bằng cách tăng vận tốc đổ đầy muộn VA lên 0,54 ± 0,1 m/s [2]. Sự suy giảm khả năng giãn nở của buồng tim là dấu hiệu bệnh học rõ nét không xuất hiện ở người chạy bộ khỏe mạnh [2].

Bên cạnh đó, việc theo dõi điện tâm đồ vector trên 17 cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp năm 1981 cũng ghi nhận dù có 9 người phì đại thất trái và 3 người phì đại hai thất kết hợp, các vector lực khử cực ban đầu vẫn giữ định hướng không gian bình thường và vòng QRS không có biến dạng bệnh lý [6]. Sự gia tăng biên độ sóng điện tim đơn thuần chỉ phản ánh thể tích và khối lượng buồng tim tăng lên do tập luyện [6].

Những hình ảnh điện tim có thể gây hiểu lầm

Không chỉ trên siêu âm, điện tâm đồ của người chạy bộ cũng thường biểu hiện những chỉ số bất thường giả tạo khiến người bệnh và thậm chí cả các bác sĩ không chuyên khoa tim mạch thể thao lo ngại [7]. Trong nghiên cứu năm 1981, có tới 7 trong số 10 vận động viên nam và 3 trong số 9 vận động viên nữ có các biến đổi trên điện tim như tăng điện thế trước tim rõ rệt, dạng tái cực sớm hoặc phì đại thất phải [4]. Một vận động viên nữ và một người ở nhóm đối chứng cũng xuất hiện đoạn ST chênh xuống 1 mm sau bài tập [4].

Một tổng quan năm 2016 về các biến đổi điện tâm đồ ở người chạy marathon nhấn mạnh rằng việc thiếu hiểu biết về các biểu hiện điện tim thông thường của người tập thể dục nhịp điệu kéo dài rất dễ dẫn tới chẩn đoán sai lầm, điều trị không cần thiết hoặc chuyển viện chuyên khoa quá mức [7]. Điển hình là dạng tái cực sớm (ERP) vốn thường liên quan đến nguy cơ rung thất ở người có bệnh tim, nhưng lại hoàn toàn lành tính khi xuất hiện trên những người chạy bộ khỏe mạnh không có tổn thương tim tiềm ẩn [7].

Dạng tái cực sớm này thường đồng xuất hiện với các tiêu chuẩn điện thế phì đại thất trái đơn thuần và được y văn hiện đại công nhận là một tiến trình thích nghi không nguy hiểm ở vận động viên [7]. Tuy nhiên, phương pháp điện tâm đồ đơn thuần lại có độ nhạy rất thấp; một nghiên cứu năm 1990 trên 20 vận động viên cự ly dài kỳ cựu (tuổi trung bình 56 ± 7, chạy ít nhất 25 dặm mỗi tuần trong hơn 25 năm) cho thấy điện tim chỉ phát hiện được phì đại thất trái ở 4 người (độ nhạy 10%), trong khi siêu âm tim xác định có tới 10 người có biểu hiện này [8].

Giới hạn của sự thích nghi: Tập luyện cường độ cực đoan

Mặc dù việc chạy bộ đem lại sự thích nghi kỳ diệu cho quả tim, ranh giới giữa sự thích nghi sinh lý và nguy cơ tổn thương vẫn có thể bị đe dọa nếu việc tập luyện vượt quá ngưỡng chịu đựng trong thời gian dài mà không có sự hồi phục thích hợp [7].

Nghiên cứu của Benito và cộng sự trích dẫn trong y văn năm 2016 trên mô hình động vật cho chuột chạy cường độ cao 60 phút mỗi ngày liên tục trong 16 tuần đã ghi nhận hiện tượng phì đại cả thất trái lẫn thất phải đi kèm xơ hóa mô tim, làm tăng tỷ lệ kích phát nhịp nhanh thất lên tới 42% so với mức chỉ 6% ở nhóm không chạy [7]. Trên người, khảo sát của tác giả LaGerche năm 2016 trên 40 vận động viên sức bền cường độ cao sử dụng chất chỉ điểm huyết thanh, siêu âm tim và chụp cộng hưởng từ (MRI) tim cho thấy buồng thất phải bị ảnh hưởng sâu sắc hơn buồng thất trái sau các đợt tập luyện quá nặng [7]. Dù những tổn thương này chỉ mang tính tạm thời, giới khoa học vẫn đặt ra giả thuyết về tác động gây loạn nhịp phụ thuộc vào liều lượng vận động tác động lên buồng thất phải [7].

Thêm vào đó, một bài báo khoa học năm 1999 cũng lưu ý rằng dù khối lượng thất trái tăng đều ở vận động viên thi đấu, kích thước tim thực tế vượt khỏi giới hạn bình thường chỉ xảy ra ở một số rất ít trường hợp, thường gặp nhất là các vận động viên chèo thuyền cự phách [1]. Đồng thời, tình trạng phì đại cơ tim sinh lý này có thể làm giảm độ nhạy của các xét nghiệm chẩn đoán không xâm lấn trong việc phát hiện bệnh mạch vành tiềm ẩn, đòi hỏi các bác sĩ phải hết sức thận trọng khi thăm khám cho vận động viên có nghi ngờ thiếu máu cơ tim [1].

Ai nên thận trọng khi nhận thấy tim biến đổi?

Bất kỳ ai tham gia tập luyện thể thao cũng cần hiểu rõ ngưỡng thích nghi của cơ thể mình. Việc giãn nhẹ hay dày thành tim chỉ được coi là bình thường khi người tập hoàn toàn không có triệu chứng lâm sàng, không có tiền sử ngất xỉu, khó thở bất thường, đau thắt ngực hay đánh trống ngực dồn dập [7], [2].

Những nhóm đối tượng sau đây cần đặc biệt thận trọng và phải thăm khám chuyên khoa tim mạch sâu thay vì tự cho rằng tim mình to là do chạy bộ:

  • Người có người thân trong gia đình từng bị đột tử không rõ nguyên nhân ở độ tuổi trẻ hoặc có tiền sử bệnh cơ tim di truyền.
  • Người đã được chẩn đoán tăng huyết áp mạn tính từ trước: Đối với người tăng huyết áp, việc tập luyện sức bền động học có thể giúp làm giảm huyết áp và từ đó làm giảm khối lượng thất trái [3], nhưng nếu thành tim vẫn dày kèm rối loạn đổ đầy tâm trương thì đó là tổn thương bệnh lý cần điều trị tích cực bằng thuốc chứ không phải thích nghi thể thao [2].
  • Người cảm thấy đau tức ngực, hụt hơi quá mức hoặc choáng ngất trong và sau các buổi chạy dài [7].
  • Người lớn tuổi hoặc người mới bắt đầu chạy bộ có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch như rối loạn mỡ máu, hút thuốc lá, đái tháo đường [1].

Áp dụng tập luyện an toàn và theo dõi sức khỏe

Để giữ cho quả tim có được sự thích nghi tối ưu, khỏe mạnh mà không biến thành gánh nặng bệnh tật, người tập chạy bộ phong trào nên tuân thủ các nguyên tắc khoa học:

  1. Kiểm tra sức khỏe định kỳ: Nếu bạn tham gia các cự ly chạy dài như bán marathon hay marathon toàn phần, hãy chủ động tầm soát tim mạch định kỳ. Hãy thông báo cho bác sĩ biết khối lượng tập luyện hàng tuần của bạn để tránh việc chẩn đoán nhầm lẫn giữa điện thế cao của tim vận động viên với bệnh tim nguy hiểm [7], [1]. Nếu cần phân định ranh giới giữa bệnh cơ tim phì đại và tim thể thao, các phương pháp thăm dò chuyên sâu như siêu âm tim Doppler khảo sát vận tốc đổ đầy tâm trương hoặc chụp cộng hưởng từ tim (MRI) sẽ được chỉ định [7], [2].
  2. Nguyên tắc tăng dần khối lượng: Tránh việc tăng cự ly hoặc tốc độ đột ngột trong thời gian ngắn. Tim và hệ tuần hoàn cần nhiều tháng để tái cấu trúc cơ tim và lòng mạch một cách sinh lý, an toàn [3].
  3. Lắng nghe cơ thể và dành thời gian hồi phục: Giấc ngủ, dinh dưỡng cân bằng và các ngày nghỉ xen kẽ đóng vai trò quyết định giúp cơ tim phục hồi, ngăn ngừa tình trạng viêm hoặc xơ hóa vi thể do vận động quá tải kéo dài [7]. Nếu có bất kỳ dấu hiệu mệt mỏi bất thường, hồi hộp đánh trống ngực, hãy tạm ngưng tập luyện và đến cơ sở y tế kiểm tra ngay.

Việc chạy bộ thường xuyên và hợp lý sẽ mang lại những chuyển biến kỳ diệu cho buồng tim, giúp nâng cao khả năng bơm máu và hạ thấp nhịp tim lúc nghỉ [4], [3]. Nhìn chung, hiện tượng giãn hoặc dày cơ tim ở người chạy bộ đại đa số là lành tính và có thể phân biệt rõ ràng với bệnh cơ tim nguy hiểm thông qua các xét nghiệm chức năng chuyên sâu [2]. Hãy kiên trì tập luyện có kế hoạch, lắng nghe nhịp điệu của cơ thể và chủ động thăm khám y tế khi cần thiết để trái tim luôn là động cơ bền bỉ nhất trên mọi cung đường.