Thói quen ngồi làm việc hàng giờ liền hoặc mải mê vận động đến khi khô rát cổ họng mới tìm nước uống rất phổ biến trong đời sống hiện đại. Nhiều người tin rằng cơ thể rất thông minh, chỉ cần đợi có tín hiệu khát mới nạp nước là đủ.

Thực tế, khi não bộ phát ra tín hiệu khát, cơ thể đã bắt đầu rơi vào trạng thái thiếu hụt dịch và thay đổi nồng độ chất hòa tan trong máu. Áp suất thẩm thấu huyết tương chỉ cần tăng khoảng 1% đến 2% so với mức bình thường đã đủ kích hoạt cảm giác khát và giải phóng hormone giữ nước [1]. Trong khi đó, loại khát do sụt giảm thể tích máu chỉ xuất hiện khi thể tích huyết tương đã giảm mạnh trên 8-10% [2].

Hai công tắc báo động khát của cơ thể

Cơ thể duy trì cân bằng dịch thông qua hai cơ chế chính: khát do áp suất thẩm thấu và khát do giảm thể tích máu [2]. Áp suất thẩm thấu huyết tương hiểu đơn giản là độ đậm đặc của các hạt hòa tan như muối trong máu. Khi cơ thể thiếu nước, máu trở nên đặc hơn và áp suất thẩm thấu tăng lên [3].

Các thụ thể nhận cảm thẩm thấu nằm ở não, phía bên mạch máu của hàng rào máu não, sẽ phát hiện ngay sự thay đổi này [4]. Ước tính có tới 70% động lực thúc đẩy hành vi uống nước ở người được quyết định bởi sự gia tăng nhỏ của áp suất thẩm thấu huyết tương [1]. Ngược lại, khi áp suất thẩm thấu giảm 1% đến 2% do uống nhiều nước, cơ thể sẽ ức chế hormone giữ nước và thải lượng nước dư qua nước tiểu loãng [1].

Công tắc thứ hai liên quan đến các thụ thể áp suất nằm ở tim, phổi và động mạch, vốn nhạy cảm với thể tích máu và huyết áp [4]. Cơ chế khát thẩm thấu phát hiện những biến đổi nhỏ về tình trạng nước, còn khát do giảm thể tích đặc hiệu cho mức sụt giảm lớn thể tích huyết tương trên 8-10%, chẳng hạn khi mất máu [2]. Hai hệ thống này tương tác chặt chẽ qua đường dẫn truyền thần kinh phế vị và thiệt hầu từ tâm nhĩ lên vùng dưới đồi của não [2]. Khi thể tích máu giảm, ngưỡng áp suất thẩm thấu cần thiết để kích hoạt cơn khát sẽ hạ thấp xuống và độ nhạy của phản ứng khát tăng lên [2].

Phối hợp giữa hormone giữ nước và cảm giác khát

Trước hoặc cùng lúc bạn thấy khát, cơ thể đã âm thầm tiết ra hormone vasopressin để tự cứu mình [1]. Hormone này gắn vào các thụ thể V2 ở thận, làm tăng tính thấm nước ở ống lượn xa để giữ nước lại và làm đặc nước tiểu [1]. Nhờ đó, lượng nước mất qua đường tiểu giảm xuống rõ rệt [1].

Một tài liệu năm 2013 mô tả ngưỡng kích hoạt giải phóng hormone vasopressin được đặt thấp hơn ngưỡng kích hoạt cảm giác khát [1]. Cụ thể, ngưỡng thẩm thấu gây khát và thèm tìm nước cao hơn khoảng 5 đến 10 mOsm so với ngưỡng tiết vasopressin, rơi vào khoảng 295 mOsm/kg H2O [1]. Thiết lập ngưỡng tiết hormone thấp hơn giúp con người tiếp tục công việc hàng ngày mà không bị gián đoạn liên tục bởi cảm giác khát [1].

Tuy nhiên, một nghiên cứu thực nghiệm năm 1986 trên 10 tình nguyện viên khỏe mạnh truyền dung dịch muối ưu trương và muối sinh lý lại ghi nhận kết quả gần nhau hơn [5]. Bằng thang đo thị giác tuyến tính, nhóm nghiên cứu xác định ngưỡng thẩm thấu bắt đầu khát là 281 mosmol/kg, tương đương với ngưỡng lý thuyết giải phóng vasopressin là 285 mosmol/kg [5]. Khi truyền muối ưu trương, áp suất thẩm thấu tăng đều kéo theo sự gia tăng tuyến tính của cả cảm giác khát và nồng độ vasopressin huyết tương [5]. Các tác giả kết luận hai quá trình này có thể dùng chung một loại thụ thể hoặc hai thụ thể có đặc tính hoạt động tương tự nhau [5].

Nghiên cứu thực nghiệm nói gì về mức độ mất nước và cơn khát?

Để xem xét việc chỉ dựa vào cơn khát có giúp bù đủ nước hay không, một nghiên cứu năm 1987 đã tiến hành thử nghiệm trên 7 đối tượng [3]. Những người này được làm mất nước ở các mức 0%, 3%, 5% và 7% trọng lượng cơ thể trong bốn đợt thử nghiệm ngẫu nhiên thông qua hạn chế ăn uống kết hợp vận động trong môi trường nhiệt độ vừa phải [3]. Kết quả cho thấy khi mức mất nước tăng dần, áp suất thẩm thấu huyết tương và hoạt tính renin tăng lên, trong khi thể tích huyết tương giảm xuống [3]. Đáng chú ý, trong suốt 1 giờ được uống nước tự do theo nhu cầu sau đó, tất cả các đối tượng đều uống không đủ lượng dịch để khôi phục lại trọng lượng cơ thể ban đầu [3].

Một nghiên cứu khác năm 1995 trên 8 nam giới từ 19 đến 25 tuổi lại khám phá yếu tố làm dịu cơn khát khi ngâm mình trong nước [6]. Các tình nguyện viên trải qua trạng thái đủ nước và trạng thái mất nước giảm 3,7% trọng lượng cơ thể sau khi tập luyện trong môi trường nóng, sau đó đặt trong không khí hoặc ngâm nước ngập đến cổ mà không được uống nước [6]. Ở nhóm mất nước ngâm mình trong nước, cảm giác khát giảm đáng kể chỉ trong vòng 10 phút ngâm và duy trì sau đó, dù áp suất thẩm thấu huyết tương vẫn ở mức cao 288 mosmol/kgH2O và natri máu là 140 meq/l [6]. Lý do là việc ngâm nước làm thể tích huyết tương tăng 4,2%, tăng thể tích nhát bóp của tim và giảm hormone vasopressin từ 5,3 xuống 2,9 pg/ml, qua đó kích thích thụ thể áp suất ở tim phổi làm dịu cơn khát bất chấp máu vẫn đang đặc [6].

Trong môi trường bệnh viện, câu hỏi liệu cảm giác khát của bệnh nhân có thể dùng làm thước đo kê đơn truyền dịch hay không cũng được đặt ra trong một tổng quan hệ thống năm 2018 [2]. Dù khát là triệu chứng nhạy cảm của sự sụt giảm tổng lượng nước cơ thể, các nhà khoa học nhấn mạnh cần định lượng độ chính xác chẩn đoán của nó trước khi áp dụng để tránh nguy cơ mất nước hoặc quá tải dịch do điều trị [2]. Ngoài ra, ở các bệnh nhân có bệnh lý đặc thù, cơ chế khát có thể diễn biến phức tạp. Nghiên cứu năm 1987 so sánh 15 bệnh nhân đái tháo nhạt trung ương và 15 người khỏe mạnh khi truyền muối ưu trương cho thấy áp suất thẩm thấu ở bệnh nhân tăng từ 292 lên 316 mOsm/kg [7]. Trong đó, 13 bệnh nhân có mức tăng điểm khát bình thường từ 1,4 lên 8,1 cm trên thang 10 cm và hết khát sau khi uống nước, nhưng có 1 bệnh nhân bị giảm khát bất thường và 1 bệnh nhân uống nước cưỡng bức gây rối loạn cân bằng muối nước [7]. Thậm chí, một báo cáo ca bệnh năm 1981 ghi nhận bé gái 8 tuổi mắc suy tuyến yên vùng dưới đồi có ngưỡng thẩm thấu dao động bất ổn từ 263 đến 300 mosm/kg, và hoàn toàn phủ nhận cảm giác khát ngay cả khi áp suất thẩm thấu máu lên tới 307 mosm/kg [8].

Lợi ích, giới hạn của bằng chứng và hiểu lầm thường gặp

Các dữ liệu nghiên cứu cho thấy phản xạ khát của con người rất nhạy bén với sự thay đổi độ đặc của máu, chỉ cần chênh lệch 1-2% áp suất thẩm thấu đã kích hoạt tín hiệu [1]. Tuy nhiên, bằng chứng khoa học hiện tại có giới hạn là nhiều thử nghiệm kinh điển thực hiện trên quy mô mẫu nhỏ từ 7 đến 15 người hoặc dùng phương pháp truyền muối ưu trương trong phòng thí nghiệm [5]. Thực tế lâm sàng ghi nhận ngưỡng kích hoạt khát và tiết hormone khác biệt rất lớn giữa từng cá nhân [1].

Hiểu lầm phổ biến nhất là tin rằng "hễ hết khát nghĩa là cơ thể đã đủ nước". Nghiên cứu năm 1987 chứng minh ngay cả khi được uống tự do trong 1 giờ sau khi mất từ 3% đến 7% trọng lượng cơ thể, người tham gia vẫn không nạp đủ lượng nước đã mất [3]. Điều này xảy ra vì cơ chế chấm dứt việc uống nước khác với cơ chế khởi phát cơn khát: các thụ thể ở vùng hầu họng sẽ đo đếm thể tích nước nuốt vào để ra lệnh ngừng uống trước khi nước kịp hấp thu vào máu [4].

Hiểu lầm thứ hai là cho rằng không khát tức là không thiếu nước. Nghiên cứu ngâm nước năm 1995 chỉ ra khi máu dồn về tim làm tăng thể tích huyết tương 4,2%, thụ thể áp suất ở tim phổi sẽ làm giảm cảm giác khát trong 10 phút dù cơ thể vẫn đang mất 3,7% trọng lượng và máu vẫn đặc [6]. Do đó, người đi bơi hoặc ngâm nước rất dễ bỏ qua việc bù dịch.

Ai nên thận trọng với tín hiệu báo khát của cơ thể?

Không phải ai cũng có bộ cảm biến khát hoạt động chuẩn xác. Nhóm đầu tiên cần lưu ý là người cao tuổi, vì họ có ngưỡng kích hoạt khát cao hơn bình thường, dẫn đến dễ xuất hiện các triệu chứng mất nước trước khi kịp nhận ra mình khát [4].

Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang trong pha hoàng thể của chu kỳ kinh nguyệt lại có ngưỡng khát hạ thấp hơn, có thể góp phần gây giữ nước trong các giai đoạn này [4]. Ngược lại, tình trạng uống nước tăng cao bất thường được ghi nhận ở những người mắc suy tim sung huyết, tăng huyết áp do thận và một số tổn thương não [4].

Những người có bệnh lý vùng dưới đồi, suy tuyến yên hoặc đái tháo nhạt trung ương cũng cần đặc biệt cảnh giác vì có thể kèm theo chứng giảm khát hoặc cuồng uống làm rối loạn cân bằng muối và nước [7]. Nếu bạn có bệnh nền về tim, thận, nội tiết hoặc đang dùng thuốc, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để biết lượng nước nạp vào phù hợp thay vì chỉ nghe theo cảm giác khát.

Cách áp dụng thực tế để bù nước đúng và đủ

Ở một người đang thiếu nước, việc uống lượng nước tương đương hai cốc lớn khoảng 850 mL sẽ giúp hạ áp suất thẩm thấu máu khoảng 6 mOsm/kg trong vòng 30 phút [1]. Tuy nhiên, vì cơ chế đo lường ở hầu họng sẽ làm cắt cơn khát sớm trước khi cơ thể thực sự bù đủ lượng dịch thiếu hụt, bạn không nên chỉ uống vài ngụm cho đỡ khô họng rồi dừng hẳn [4].

Trong ngày làm việc bình thường, hãy chủ động chia nhỏ lượng nước để uống định kỳ thay vì đợi đến khi khát khô cổ, bởi lúc đó áp suất thẩm thấu máu đã tăng 1-2% và thận đã phải tăng cường tiết vasopressin để cô đặc nước tiểu [1]. Khi tập luyện thể thao hoặc làm việc dưới trời nóng gây mất mồ hôi nhiều, cần chủ động bù nước theo kế hoạch vì ngay cả khi được uống tự do 1 giờ sau vận động, cơ thể vẫn có xu hướng uống thiếu so với lượng trọng lượng đã mất [3].

Đối với người đi bơi hoặc ngâm mình trong nước, hãy nhớ lên bờ uống nước định kỳ. Áp lực nước làm tăng thể tích máu về tim sẽ đánh lừa não bộ, làm giảm cảm giác khát chỉ sau 10 phút ngâm mình dù cơ thể chưa hề được bổ sung giọt nước nào [6].

Cảm giác khát là phản xạ sinh tồn quan trọng nhưng thường xuất hiện khi máu đã bắt đầu cô đặc và cơ chế giữ nước ở thận đã phải làm việc. Chủ động uống nước rải rác trong ngày, đặc biệt ở người lớn tuổi và người vận động ra mồ hôi, là cách đơn giản nhất để duy trì cân bằng dịch. Với người có bệnh lý nền về tim, thận hoặc nội tiết, việc theo dõi lượng nước xuất nhập cần tuân theo hướng dẫn cụ thể của bác sĩ điều trị.