Đau đầu uống ngay viên thuốc giảm đau là thói quen của nhiều người để nhanh chóng quay lại công việc. Tuy nhiên, ít ai ngờ việc dùng thuốc quá thường xuyên lại chính là thủ phạm khiến cơn đau xuất hiện dày đặc hơn mỗi ngày.

Y học gọi hiện tượng này là đau đầu dội ngược, được Hiệp hội Đau đầu Quốc tế phân loại lại dưới tên gọi chính thức là đau đầu do lạm dụng thuốc (MOH) [1]. Việc tiêu thụ thuốc cắt cơn quá mức không giúp trị dứt điểm bệnh, mà ngược lại làm biến đổi các cơn đau đầu từng đợt hoặc tự giới hạn thành chứng đau đầu mạn tính hàng ngày, đồng thời làm giảm hiệu quả của cả thuốc điều trị cấp tính lẫn thuốc dự phòng [2][3].

Kẻ giấu mặt đằng sau những cơn đau đầu mỗi ngày

Đau đầu do lạm dụng thuốc là rối loạn đau đầu mạn tính phổ biến nhất hiện nay, ảnh hưởng đến khoảng 1% đến 2% dân số nói chung trên toàn thế giới [4][5][6]. Tại các phòng khám chuyên khoa, tỷ lệ bệnh nhân mắc hội chứng này thậm chí lên tới 50% [6]. Bệnh gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống và có thể làm phức tạp thêm bất kỳ loại đau đầu sẵn có nào ở người trẻ, người trưởng thành cho đến cả người cao tuổi [2][7].

Tình trạng này được định nghĩa lâm sàng là cơn đau đầu xuất hiện từ 15 ngày trở lên mỗi tháng, đi kèm với việc lạm dụng thuốc điều trị đau đầu cấp tính trong thời gian từ 3 tháng trở lên [7]. Nền tảng ban đầu của người bệnh thường là chứng đau nửa đầu (migraine) hoặc đau đầu kiểu căng thẳng [7]. Trong đó, những người mắc chứng đau nửa đầu đặc biệt dễ rơi vào tình trạng đau đầu dội ngược do thuốc giảm đau, dẫn đến biến đổi thành đau nửa đầu mạn tính [2].

Bất kỳ loại thuốc giảm đau nào nếu uống đều đặn ít nhất 10 ngày mỗi tháng đều có khả năng gây ra hội chứng này [4]. Cụ thể hơn, ngưỡng lạm dụng được xác định khi người bệnh dùng các thuốc giảm đau đơn thuần từ 15 ngày trở lên mỗi tháng, hoặc dùng nhóm thuốc triptan hay thuốc giảm đau phối hợp từ 10 ngày trở lên mỗi tháng [7]. Bác sĩ và người bệnh cần nghĩ ngay đến khả năng này khi một người có tiền sử đau đầu nhận thấy tần suất cơn đau tăng vọt trong giai đoạn uống thuốc giảm đau thường xuyên [4].

Vì sao thuốc giảm đau lại biến thành tác nhân gây đau?

Cơ chế bệnh sinh của đau đầu do lạm dụng thuốc rất phức tạp và đến nay vẫn chưa được giới y học hiểu biết hoàn toàn [4][3]. Tuy nhiên, các nhà khoa học ghi nhận sự góp mặt của khuynh hướng di truyền cùng các yếu tố sinh học về thần kinh - hóa học và sinh lý thần kinh [4]. Một trong những cơ chế tiềm ẩn là sự thay đổi độ nhạy cảm của hệ thần kinh do hiện tượng nhạy cảm hóa trung ương, đi kèm với những biến đổi về tính mềm dẻo thần kinh và sự suy giảm khả năng ức chế đau nội sinh của cơ thể [6][7].

Bên cạnh yếu tố sinh học, các yếu tố tâm lý và hành vi đóng vai trò thúc đẩy bệnh hình thành [4]. Người bệnh thường có tâm lý lo âu chờ đợi cơn đau, trầm trọng hóa cảm giác đau, từ đó dẫn đến hành vi uống thuốc giảm đau một cách cưỡng bức [4]. Các nghiên cứu tâm lý học cũng chỉ ra tình trạng lệ thuộc, thậm chí là nghiện thuốc ở những bệnh nhân mắc hội chứng này [6].

Nhiều bằng chứng từ chẩn đoán hình ảnh thần kinh đã làm sáng tỏ sự thay đổi thực sự bên trong não bộ người bệnh [6]. Kỹ thuật chụp cộng hưởng từ (MRI) phân tích hình thái học cho thấy sự thay đổi thể tích chất xám tại các vùng não tham gia điều hòa cảm giác đau [6]. Các nghiên cứu chụp cắt lớp phát xạ positron (PET) và MRI chức năng cũng phát hiện sự thay đổi hoạt động tại các vùng não tương tự, đặc biệt là hệ thống dopamine mesocorticolimbic - hay còn gọi là hệ thống phần thưởng của não bộ, bao gồm vùng покрышка bụng (ventral tegmental area), thể vân và vỏ não trán ổ mắt [6]. Đáng lưu ý, tình trạng giảm chuyển hóa ở vỏ não trán ổ mắt vẫn tồn tại ngay cả sau khi đã điều trị thành công, gợi ý vùng não này có vai trò nguyên nhân hoặc dự báo đáp ứng điều trị, trong khi phần lớn các thay đổi não bộ khác thường có thể đảo ngược sau khi cai thuốc thành công [6].

Nghiên cứu khoa học nói gì về vòng xoắn lạm dụng thuốc?

Một nghiên cứu hồi cứu công bố năm 1993 đã xem xét bệnh sử của các bệnh nhân tại chương trình điều trị đau đầu nội trú ở một bệnh viện cộng đồng [8]. Kết quả cho thấy nhiều người khởi đầu bằng những cơn đau nửa đầu từng đợt khá điển hình, nhưng qua nhiều năm đã tiến triển thành đau đầu hàng ngày hoặc gần như hàng ngày [8]. Trong số 100 bệnh nhân đầu tiên nhập viện, có tới 53 người bị đau đầu mạn tính hàng ngày kèm theo tình trạng lạm dụng thuốc giảm đau hoặc thuốc cắt cơn đau đầu khác [8]. Khi được điều trị hội chứng khó nhận diện này, chủ yếu bằng thuốc dihydroergotamine (DHE) đường tĩnh mạch, các bệnh nhân đã giảm đau đáng kể vào thời điểm xuất viện cũng như khi theo dõi vài tháng sau đó [8].

Một bài tổng quan công bố năm 2019 đã rà soát các nghiên cứu trên người bằng tiếng Anh từ ngày 1/1/2004 đến ngày 1/11/2017 trên cơ sở dữ liệu PubMed nhằm đánh giá phương pháp điều trị cho người từ 18 tuổi trở lên mắc đau đầu do lạm dụng thuốc [5]. Các tác giả nhận định dù căn bệnh này đã được ghi nhận gần 30 năm, giới chuyên gia vẫn chưa hoàn toàn đồng thuận về phác đồ tối ưu nhất, một phần do nhiều nghiên cứu đánh giá yếu tố tiên lượng có cỡ mẫu còn hạn chế [5]. Dù vậy, dữ liệu tổng hợp khẳng định các chương trình cai thuốc giải độc giữ vai trò vô cùng quan trọng [5]. Nghiên cứu này cũng chỉ ra bệnh nhân có bệnh lý tâm thần đi kèm, điểm lệ thuộc thuốc cao, hoặc lạm dụng nhóm barbiturat, benzodiazepin và opioid có kết quả cai thuốc kém hơn và cần điều trị nội trú; ngược lại, người không có các yếu tố nguy cơ này đạt lợi ích tương đương dù điều trị nội trú hay ngoại trú [5].

Các báo cáo y khoa năm 2015 và 2018 cũng cung cấp bức tranh toàn diện về hướng xử trí hiện đại [4][3][7]. Do thiếu các phương pháp điều trị dựa trên cơ chế đặc hiệu, bước bắt buộc đầu tiên luôn là ngưng sử dụng loại thuốc đang lạm dụng [4][3]. Đáng chú ý, tỷ lệ tái phát bệnh sau điều trị có thể lên tới 30% đến 40% bất chấp việc đã điều trị hiệu quả trước đó [4]. Điều này đặt ra giới hạn lớn rằng thuốc men đơn thuần không đủ giữ kết quả bền vững nếu thiếu sự giáo dục nhận thức và hỗ trợ tâm lý lâu dài cho người bệnh [4][3].

Những hiểu lầm khiến người bệnh mãi lệ thuộc thuốc

Hiểu lầm phổ biến nhất là cho rằng chỉ các loại thuốc giảm đau mạnh kê đơn mới gây lệ thuộc, còn thuốc giảm đau thông thường thì an toàn tuyệt đối. Thực tế, bất kỳ loại thuốc giảm đau nào dùng từ 10 đến 15 ngày mỗi tháng đều có thể gây đau đầu dội ngược [4][7]. Ngay cả các sản phẩm có chứa caffeine cũng nằm trong danh sách các chất cần phải ngưng đột ngột khi bắt đầu phác đồ giải độc điều trị bệnh [7].

Sai lầm thứ hai là cố gắng uống thêm thuốc dự phòng đau đầu trong khi vẫn duy trì thói quen uống thuốc giảm đau hàng ngày. Các nghiên cứu chỉ ra rằng những liệu pháp điều trị dự phòng thường không mang lại hiệu quả trong bối cảnh người bệnh đang lạm dụng thuốc cắt cơn [2][3]. Một số thuốc dự phòng đau nửa đầu tuy có tác dụng tốt hơn giả dược, nhưng lại không cho thấy ưu thế vượt trội khi kết hợp ngay cùng lúc với quá trình cai thuốc [5]. Thậm chí, việc trì hoãn dùng thuốc dự phòng sau giai đoạn cai thuốc còn giúp giảm số lượng bệnh nhân thực sự cần đến thuốc dự phòng [5].

Ai có nguy cơ cao và cần đặc biệt thận trọng?

Đau đầu do lạm dụng thuốc có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng phổ biến nhất là ở phụ nữ trong độ tuổi từ 40 đến 50 [2][4]. Những người có sẵn nền tảng đau nửa đầu hoặc đau đầu kiểu căng thẳng cần đặc biệt cảnh giác khi thấy mình phải cầm đến vỉ thuốc giảm đau ngày một nhiều hơn [2][7].

Các yếu tố nguy cơ chính thúc đẩy hội chứng này bao gồm thói quen hút thuốc lá, tình trạng béo phì, trầm cảm và rối loạn lo âu [4]. Ngoài ra, những người đang sử dụng các nhóm thuốc có tính lệ thuộc cao như thuốc an thần nhóm barbiturat, nhóm benzodiazepin hoặc thuốc giảm đau gây nghiện nhóm opioid cần hết sức thận trọng [3][5]. Đây là nhóm đối tượng có tiên lượng cai thuốc khó khăn hơn và tuyệt đối không nên tự ý xử trí tại nhà mà cần sự giám sát y tế chặt chẽ tại bệnh viện [3][5].

Làm sao để thoát khỏi vòng xoắn đau đầu do thuốc?

Nguyên tắc tiên quyết để điều trị thành công là phải ngưng sử dụng loại thuốc giảm đau đang bị lạm dụng, tốt nhất là ngưng đột ngột tất cả các thuốc cắt cơn đau đầu cấp tính và các sản phẩm chứa caffeine [4][3][7]. Với những người chỉ lạm dụng thuốc giảm đau đơn thuần, có quyết tâm cao và không mắc kèm trầm cảm hay lo âu nặng, phương pháp ưu tiên là cai thuốc ngoại trú tại nhà [3][7]. Ngược lại, người lạm dụng barbiturat, opioid, có bệnh trầm cảm đi kèm hoặc gặp khó khăn khi tự ngưng thuốc ngoại trú cần được nhập viện điều trị nội trú [3][5].

Quá trình ngưng thuốc sẽ gây ra các triệu chứng cai thuốc, bao gồm cả các cơn đau đầu dội ngược bùng phát tạm thời [4]. Để giảm nhẹ giai đoạn này, bác sĩ có thể chỉ định phác đồ giải độc hỗ trợ tùy từng người bệnh, bao gồm truyền dịch tĩnh mạch, thuốc chống nôn, corticosteroid (như prednisone), thuốc an thần (benzodiazepin), thuốc an thần kinh, và một loại thuốc giảm đau cứu hộ khác với loại thuốc người bệnh đã lạm dụng [3]. Ngay sau khi giải độc, bác sĩ có thể tái thiết lập điều trị dự phòng, chẳng hạn như tiêm tại chỗ onabotulinumtoxinA mỗi 3 tháng hoặc uống topiramate ít nhất 3 tháng, đồng thời điều trị các bệnh lý đồng mắc [4][3].

Để phòng ngừa nguy cơ tái phát vốn ở mức 30% đến 40%, người bệnh cần hiểu rõ lý do phải cai thuốc, diễn biến dự kiến và phác đồ tiếp theo [4][7]. Trong đời sống hàng ngày, người có bệnh đau đầu mạn tính nên ghi nhật ký theo dõi số ngày dùng thuốc, không tự ý uống thuốc giảm đau quá 10 ngày mỗi tháng và cần tham khảo ý kiến bác sĩ đa khoa hoặc chuyên khoa thần kinh ngay khi thấy cơn đau đổi khác [4][7].

Thuốc giảm đau là công cụ hữu ích để kiểm soát cơn đau cấp tính, nhưng việc lạm dụng lại biến chúng thành tác nhân duy trì nỗi đau mỗi ngày [2][3]. Nhận diện sớm dấu hiệu đau đầu dội ngược và chủ động thăm khám bác sĩ để có lộ trình ngưng thuốc an toàn là chìa khóa giúp người bệnh giải phóng não bộ khỏi sự lệ thuộc thuốc [2][4].