Nỗi lo sụt cân, đứng cân trong 3 tháng đầu thai kỳ

Bước vào giai đoạn đầu mang thai, nhiều phụ nữ đối mặt với tình trạng ốm nghén, chán ăn, dẫn đến việc tăng cân rất ít hoặc thậm chí sụt cân. Thực tế này khiến không ít gia đình hoang mang, lo sợ thai nhi bị suy dinh dưỡng ngay từ trong bụng mẹ và cố gắng ép mẹ bầu ăn thật nhiều để bù đắp.

Vậy việc tăng cân quá ít hoặc sụt cân trong tam cá nguyệt thứ nhất có thực sự đáng lo ngại? Các dữ liệu khoa học cho thấy sự thay đổi cân nặng của mẹ trong 3 tháng đầu có liên quan đến cân nặng lúc sinh của trẻ thông qua sự phát triển của nhau thai [1]. Tuy nhiên, giai đoạn tăng cân mạnh mẽ nhất quyết định trực tiếp đến chiều dài và cân nặng của thai nhi lại rơi vào tam cá nguyệt thứ hai, trong khi việc tăng cân quá mức ngay từ quý một lại làm tăng nguy cơ đái tháo đường thai kỳ cho mẹ và tích mỡ thừa ở con [2][3][4].

Cơ chế cân nặng người mẹ tác động đến thai nhi

Tăng cân thai kỳ là một đặc điểm sinh học phức tạp, chịu ảnh hưởng bởi sinh lý người mẹ cùng quá trình trao đổi chất giữa mẹ, nhau thai và thai nhi [4]. Sự phát triển của bào thai phụ thuộc chặt chẽ vào nguồn cung cấp nhiên liệu đi qua nhau thai [5].

Trong những tuần đầu tiên của thai kỳ, sự thay đổi cân nặng của người mẹ không tác động trực tiếp ngay lập tức lên kích thước em bé mà hoạt động thông qua một cầu nối trung gian là nhau thai [1]. Cụ thể, mức thay đổi cân nặng ở quý một ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và chức năng của nhau thai, từ đó gián tiếp tác động đến kích thước của trẻ lúc chào đời [1].

Bên cạnh nhau thai, tốc độ phát triển của thai nhi còn gắn liền với sự cân bằng đường huyết và độ nhạy insulin của người mẹ [5]. Một nghiên cứu công bố năm 1999 trên 69 phụ nữ mang thai khỏe mạnh cho thấy cân nặng sơ sinh có mối tương quan với mức tăng cân thai kỳ của mẹ, trọng lượng nhau thai và chỉ số đường huyết HbA1c trong tam cá nguyệt thứ nhất và thứ hai [5]. Các chỉ số tăng trưởng của thai nhi trên siêu âm như chiều dài xương đùi, đường kính lưỡng đỉnh và chu vi vòng bụng đều tương quan với chỉ số HbA1c và kết quả nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống sau 2 giờ [5].

Bằng chứng khoa học về thay đổi cân nặng sớm và sự phát triển của trẻ

Để làm rõ vai trò của cân nặng trong tam cá nguyệt thứ nhất, một nghiên cứu công bố năm 2014 tại Pháp (nghiên cứu EDEN) đã theo dõi 1.744 cặp mẹ con sinh đủ tháng từ tổng số 2.002 phụ nữ tham gia [1]. Các nhà khoa học thu thập cân nặng trước mang thai và ít nhất 5 lần đo cân nặng trong thai kỳ để ước tính mức thay đổi cân nặng ở từng tam cá nguyệt [1]. Sau khi điều chỉnh các yếu tố gây nhiễu như tuổi mẹ, số lần sinh, chỉ số khối cơ thể (BMI), thói quen hút thuốc, trình độ học vấn, tuổi thai, giới tính trẻ và mức tăng cân ở các giai đoạn sau, kết quả cho thấy sự thay đổi cân nặng trong quý một có mối liên hệ thuận chiều với cân nặng lúc sinh [1]. Phân tích chuyên sâu khẳng định mối liên hệ này không diễn ra trực tiếp mà được dẫn truyền qua trọng lượng nhau thai [1].

Tiếp nối góc nhìn về giai đoạn chuyển tiếp, một nghiên cứu công bố năm 2004 đã khảo sát 200 phụ nữ tại 4 ngôi làng nông thôn ở Guatemala nhằm tìm hiểu thời điểm nhạy cảm cho sự phát triển chiều dài của thai nhi [2]. Nhóm nghiên cứu thực hiện siêu âm ở tuần thai 15 đến 24 (trung bình 17,5 tuần) và tuần thai 28 đến 32 (trung bình 29,9 tuần) để đánh giá mức tăng cân từ khoảng tuần 10 đến tuần 20 (từ quý một sang quý hai) và từ tuần 20 đến tuần 30 (từ quý hai sang quý ba) [2]. Kết quả chỉ ra rằng mức tăng cân từ tam cá nguyệt thứ nhất sang tam cá nguyệt thứ hai có liên hệ chặt chẽ với chiều dài xương đùi và xương chày của thai nhi ở cả mốc trung bình 17 tuần và 30 tuần (P < 0,05), đồng thời quyết định chiều dài của trẻ lúc sinh (P < 0,001) [2]. Ngược lại, mức tăng cân từ quý hai sang quý ba không dự báo được chiều dài của trẻ khi chào đời [2].

Đối với nhóm phụ nữ thừa cân và béo phì mang thai đơn, một nghiên cứu hồi cứu công bố năm 2019 thực hiện trên 5.814 sản phụ sinh con trong giai đoạn 2012-2014 đã đánh giá hệ quả của việc tăng cân không đủ hoặc quá mức trước tam cá nguyệt thứ ba [6]. Trong tổng số người tham gia, có 1.280 người (22%) tăng cân đạt chuẩn, 1.428 người (24,6%) tăng cân không đủ và 3.106 người (53,4%) tăng cân quá mức trong tam cá nguyệt thứ nhất và thứ hai [6]. Những phụ nữ tăng cân không đủ ở giai đoạn sớm có nguy cơ sinh con nhỏ hơn tuổi thai (SGA) cao hơn (tỷ số chênh hiệu chỉnh aOR 1,59; khoảng tin cậy 95%: 1,23-2,06) và ít có khả năng sinh con lớn hơn tuổi thai (LGA) (aOR 0,73; khoảng tin cậy 95%: 0,54-0,98) [6]. Đáng chú ý, việc tăng cân nhiều hơn ở tam cá nguyệt thứ ba làm tăng nguy cơ sinh con lớn hơn tuổi thai nhưng lại không thể đảo ngược được nguy cơ sinh con nhỏ hơn tuổi thai do tăng cân thiếu hụt ở giai đoạn đầu [6].

Riêng với các trường hợp mang song thai, bức tranh lại có sự khác biệt nhất định [7]. Một nghiên cứu năm 2022 phân tích hồi cứu hồ sơ y tế của 500 ca mang song thai sinh từ tuần 28 trở lên tại một trung tâm y tế trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2011 đến tháng 12 năm 2020 [7]. Kết quả ghi nhận ở nhóm phụ nữ có cân nặng bình thường trước mang thai, mức tăng cân trong tam cá nguyệt thứ nhất không phải là yếu tố có ý nghĩa dự báo sự phát triển của thai nhi [7]. Thay vào đó, việc tăng cân ở tam cá nguyệt thứ hai mới là chỉ báo mạnh mẽ nhất: yếu tố dự báo đơn lẻ tốt nhất cho tình trạng trẻ sơ sinh nhỏ là mức tăng cân trong khoảng tuần 15-18 và tuần 24-28 với ngưỡng cắt là 6,2 kg (diện tích dưới đường cong 0,592; p < 0,001) [7].

Hiểu lầm tai hại về việc "ăn cho hai người" ngay từ quý một

Do lo sợ việc tăng cân ít trong 3 tháng đầu làm con còi cọc, nhiều thai phụ ra sức tẩm bổ quá đà ngay khi vừa biết tin có thai. Tuy nhiên, bằng chứng khoa học cho thấy việc tăng cân quá nhanh trong giai đoạn này mang lại nhiều rủi ro hơn là lợi ích [3][4].

Một nghiên cứu quy mô lớn công bố năm 2018 đã lấy mẫu từ 124.590 phụ nữ sinh con đơn thai từ năm 1998 đến 2010 tại Bệnh viện Magee-Womens ở Pittsburgh, bang Pennsylvania (Mỹ) [3]. Phân tích cuối cùng bao gồm 806 phụ nữ mắc đái tháo đường thai kỳ và 4.819 phụ nữ không mắc bệnh được chọn ngẫu nhiên [3]. Kết quả cho thấy ở những phụ nữ có cân nặng bình thường trước mang thai, mỗi một độ lệch chuẩn tăng thêm trong mức tăng cân ở tam cá nguyệt thứ nhất vượt quá mức dự đoán sẽ làm tăng 23% nguy cơ mắc đái tháo đường thai kỳ (khoảng tin cậy 95%: 0,2% đến 51%) [3]. Mô hình rủi ro này cũng tương tự ở nhóm béo phì độ I và độ II, trong khi quỹ đạo tăng cân ở tam cá nguyệt thứ hai lại không liên quan đến nguy cơ mắc đái tháo đường thai kỳ ở bất kỳ nhóm BMI nào (OR: 1,1; khoảng tin cậy 95%: 0,9-1,3) [3].

Không chỉ ảnh hưởng đến mẹ, việc tăng cân sớm quá mức còn tác động lâu dài đến sức khỏe chuyển hóa của trẻ [4]. Tài liệu nghiên cứu đoàn hệ tương lai GaRBH tại Ấn Độ năm 2019 chỉ ra rằng bất kỳ mức tăng cân nào trong 14 tuần đầu tiên, cũng như tốc độ tăng cân cao (trên 500 g/tuần) từ tuần 14 đến tuần 36, đều liên quan đến tình trạng tăng tích tụ mỡ ở con cái [4]. Tăng cân trong tam cá nguyệt thứ nhất có liên hệ với chỉ số BMI của trẻ từ thời thơ ấu đến đầu giai đoạn trẻ nhỏ, đồng thời liên quan đến mức độ mỡ cao và hồ sơ tim mạch - chuyển hóa bất lợi ở trẻ em, bất kể cân nặng trước mang thai của mẹ [4]. Sự lắng đọng mỡ của mẹ trong giai đoạn đầu thai kỳ do tăng cân quá mức có thể dẫn đến rối loạn chuyển hóa ở người mẹ [4].

Ưu điểm và giới hạn của các bằng chứng hiện tại

Các nghiên cứu hiện có cung cấp cái nhìn đa chiều trên nhiều nhóm dân số khác nhau, từ vùng nông thôn Guatemala, phụ nữ châu Âu tại Pháp, Anh cho đến các đoàn hệ lớn tại Mỹ và châu Á [2][3][1][4][8]. Nhiều nghiên cứu sở hữu cỡ mẫu lớn như nghiên cứu tại Mỹ với hơn 124.000 hồ sơ ban đầu hay nghiên cứu trên 5.814 sản phụ thừa cân béo phì, giúp tăng độ tin cậy khi phân tích mối liên hệ giữa cân nặng từng quý và kết cục thai kỳ [3][6].

Tuy nhiên, các bằng chứng này vẫn tồn tại những giới hạn nhất định mà độc giả cần lưu ý. Phần lớn các dữ liệu về cân nặng và kết cục sơ sinh được thu thập theo thiết kế quan sát hoặc hồi cứu hồ sơ y tế, do đó chỉ xác lập được mối liên hệ thống kê chứ không khẳng định tuyệt đối quan hệ nhân quả cho từng cá nhân [3][7][6]. Hơn nữa, dù vai trò của tăng cân thai kỳ đối với sức khỏe thai nhi đã được nghiên cứu kỹ, các cơ chế sinh học nền tảng hoặc các con đường trung gian chi tiết vẫn chưa được giới khoa học làm sáng tỏ hoàn toàn [4].

Ngoài ra, sự phát triển của thai nhi trong tử cung còn biến thiên theo nhiều đặc điểm riêng của người mẹ [8]. Một nghiên cứu theo dõi dọc năm 1995 trên 226 thai kỳ nguy cơ thấp tại Nottingham (Anh) cho thấy cân nặng thai nhi ở quý ba có tương quan thuận với chiều cao và cân nặng của mẹ ở lần khám đầu tiên, đồng thời thai nhi của những phụ nữ đã từng sinh con hoặc phụ nữ gốc Âu cũng nặng hơn so với phụ nữ gốc Ấn Độ - Pakistan [8].

Ai nên đặc biệt thận trọng với cân nặng thai kỳ?

Nhóm đầu tiên cần theo dõi sát sao là phụ nữ nhẹ cân trước khi mang thai và mang thai ở độ tuổi trẻ [7]. Trong nghiên cứu trên các ca song thai, nhóm phụ nữ nhẹ cân trước mang thai thường trẻ tuổi hơn và có tỷ lệ chuyển dạ sinh non cũng như tình trạng cổ tử cung ngắn trong thai kỳ cao hơn so với các nhóm khác [7]. Nhìn chung, việc tăng cân không đủ trong thai kỳ đi kèm với nguy cơ cao sinh con nhẹ cân, trẻ nhỏ hơn tuổi thai và sinh non [4].

Nhóm thứ hai là phụ nữ thừa cân, béo phì trước khi mang thai [3][6]. Béo phì trước mang thai là yếu tố nguy cơ đã biết của đái tháo đường thai kỳ (bệnh lý làm phức tạp khoảng 5%-6% tổng số thai kỳ) và liên quan đến những xáo trộn hệ chuyển hóa của mẹ suốt thai kỳ [3][4]. Ở nhóm này, tăng cân quá ít trong quý một và quý hai làm tăng nguy cơ sinh con nhỏ hơn tuổi thai, nhưng tăng cân quá mức lại dẫn đến thai to, đái tháo đường thai kỳ, sinh mổ và giữ cân sau sinh [4][6].

Nhóm thứ ba là phụ nữ mang song thai (chiếm khoảng 1-3% tổng số thai kỳ) [7]. Ở nhóm này, các sản phụ thừa cân thường lớn tuổi hơn và có nguy cơ đái tháo đường thai kỳ cao hơn, đòi hỏi phải kiểm soát cân nặng chặt chẽ đặc biệt trong giai đoạn giữa thai kỳ để tránh hạn chế tăng trưởng trong tử cung [7].

Điều chỉnh chế độ chăm sóc thực tế cho mẹ bầu

Nếu đang trong tam cá nguyệt thứ nhất và gặp tình trạng đứng cân hoặc tăng cân rất ít do ốm nghén, mẹ bầu không nên quá hoảng loạn hay ép bản thân ăn nhồi nhét. Thay vì cố tăng cân thật nhanh trong 14 tuần đầu tiên vốn dễ gây tích mỡ thừa cho con và tăng nguy cơ đái tháo đường thai kỳ cho mẹ, thai phụ nên ưu tiên ăn uống cân bằng, chia nhỏ bữa ăn và uống đủ nước để duy trì sức khỏe nền tảng hỗ trợ nhau thai phát triển [3][1][4].

Khi bước sang giai đoạn chuyển tiếp từ quý một sang quý hai và xuyên suốt tam cá nguyệt thứ hai (đặc biệt quanh mốc từ tuần 10 đến tuần 30), triệu chứng nghén thường giảm bớt, mẹ bầu cần chú trọng bổ sung dinh dưỡng đầy đủ [2][7]. Đây là giai đoạn nhạy cảm quyết định sự phát triển chiều dài xương của thai nhi cũng như cân nặng sơ sinh [2][7]. Tuy nhiên, tốc độ tăng cân ở quý hai và quý ba cũng cần được kiểm soát hợp lý, tránh vượt quá mức 500 g mỗi tuần để hạn chế nguy cơ thai quá to và tích mỡ bất lợi [4].

Mọi thai phụ, đặc biệt là người có bệnh nền, rối loạn đường huyết hoặc có chỉ số BMI trước mang thai ở ngưỡng nhẹ cân hay thừa cân béo phì, cần tham khảo ý kiến bác sĩ sản khoa để có mục tiêu tăng cân cá nhân hóa. Các thông tin trên không thay thế cho chẩn đoán hay chỉ định y khoa; việc khám thai định kỳ để siêu âm đo các chỉ số sinh trắc học thai nhi và làm nghiệm pháp dung nạp glucose sẽ giúp bác sĩ theo dõi chính xác nhất sự phát triển của bé [5][8].