Nhiều người thường đo độ béo qua vòng eo hay lớp mỡ có thể véo được trên bụng. Tuy nhiên, cùng nằm ở vùng bụng, mỡ dưới da và mỡ nội tạng lại có đặc tính sinh học hoàn toàn trái ngược.
Mỡ dưới da là lớp đệm năng lượng tương đối lành tính, trong khi mỡ nội tạng bao quanh các cơ quan nội tạng lại là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây rối loạn chuyển hóa [1], [2]. Béo bụng vùng trung tâm làm tăng nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa, đái tháo đường và bệnh tim mạch vượt trội so với béo phần thân dưới [3].
Khác biệt vị trí và cách thức mở rộng mô mỡ
Mỡ dưới da nằm ngay dưới bề mặt biểu bì, có thể cảm nhận bằng tay, còn mỡ nội tạng nằm sâu bên trong khoang bụng và bao bọc các tạng. Khi dư thừa năng lượng, hai mô mỡ này chọn hai con đường mở rộng rất khác nhau [4].
Nghiên cứu trên động vật gặm nhấm ăn chế độ giàu chất béo cho thấy mô mỡ nội tạng phì đại chủ yếu bằng cách tăng thể tích từng tế bào mỡ sẵn có [4]. Ngược lại, mô mỡ dưới da phát triển thông qua việc tăng sinh số lượng tế bào mỡ mới [4]. Khi các tế bào mỡ vượt quá ngưỡng dung tích và không thể giãn thêm, cân bằng nội môi bị phá vỡ, dẫn tới tình trạng lắng đọng lipid lạc chỗ ở các cơ quan khác như gan, sinh ra độc tính lipid và kháng insulin [4].
Cơ chế sinh học: Bể chứa đệm đối đầu độc tính chuyển hóa
Mô mỡ dưới da đóng vai trò như một "bể chứa" an toàn giúp cô lập chất béo trung tính dư thừa, ngăn chúng tràn vào nội tạng [4]. Ở chiều ngược lại, mỡ nội tạng sở hữu hoạt tính phân giải lipid rất cao và tác động tiêu cực trực tiếp lên gan [5].
Thử nghiệm đo lường bằng chụp cắt lớp phát xạ positron (PET) sử dụng axit béo đánh dấu [(18)F]FTHA kết hợp cộng hưởng từ (MRI) trên 18 nam giới trẻ tuổi khỏe mạnh đã làm sáng tỏ tốc độ trao đổi chất này [5]. Khả năng hấp thu axit béo tự do trên mỗi gam mô của mỡ nội tạng cao hơn 30% so với mô mỡ dưới da (0,0025 ± 0,0018 so với 0,0020 ± 0,0016 micromol/g/phút, P = 0,005) [5].
Dù vậy, khi nhân với tổng khối lượng mô, tổng lượng axit béo tự do được hấp thu ở mỡ dưới da lại cao gấp gần 1,5 lần mỡ nội tạng [5]. Điều này chứng minh mỡ dưới da kiểm soát trực tiếp lượng axit béo tự do toàn thân, còn sự nguy hại của mỡ nội tạng xuất phát từ vị trí giải phóng trực tiếp các chất chuyển hóa độc hại vào tĩnh mạch cửa gan [5].
Bằng chứng ghép mô: Mỡ dưới da giúp cải thiện chuyển hóa
Nhiều người nghĩ rằng cứ thêm mỡ là có hại, nhưng các thử nghiệm cấy ghép mô mỡ đã chứng minh điều ngược lại [3].
Trong một nghiên cứu thực nghiệm, chuột C57BL/6J nhận khoảng 1 gam mô mỡ dưới da cấy vào khoang phúc mạc đã giảm khoảng 40% mức tăng trọng lượng cơ thể so với nhóm đối chứng phẫu thuật giả [3]. Nhóm chuột nhận mỡ dưới da còn giảm đáng kể nồng độ đường huyết và insulin trong huyết tương, đồng thời tăng độ nhạy insulin toàn thân lẫn tại gan [3], [6].
Trái lại, việc ghép mô mỡ nội tạng không mang lại bất kỳ tác động tích cực nào lên trọng lượng cơ thể hay chỉ số glucose và insulin của chuột nhận [3], [6]. Bằng chứng này gợi ý rằng rối loạn chức năng mô mỡ, thay vì tổng khối lượng mỡ đơn thuần, mới là thủ phạm gây ra các biến chứng chuyển hóa liên quan đến béo phì [3].
Nguy cơ đái tháo đường và hội chứng chuyển hóa từ mỡ nội tạng
Ở người, tỷ lệ phân bố giữa hai loại mỡ quyết định trực tiếp khả năng phát triển bệnh mạn tính [1].
Một nghiên cứu chụp MRI đánh giá thể tích mỡ trên 93 người khỏe mạnh và 93 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 cho thấy bệnh nhân đái tháo đường có nhiều mô mỡ toàn phần, mỡ nội tạng, mỡ dưới da và mỡ xen kẽ cơ bắp hơn người bình thường [1]. Tuy nhiên, sau khi hiệu chỉnh các biến số như giới tính, chủng tộc, cân nặng, chiều cao và tuổi, nhóm bệnh nhân đái tháo đường thực tế có lượng mỡ nội tạng và mỡ xen cơ cao hơn rõ rệt, nhưng lượng mỡ dưới da lại ít hơn nhóm đối chứng khỏe mạnh [1].
Hàng loạt dữ liệu tổng hợp chỉ ra mỡ nội tạng liên quan mật thiết nhất đến tiêu chuẩn hội chứng chuyển hóa ngay cả khi đã kiểm soát độ nhạy insulin và mỡ dưới da [1]. Mỡ vùng bụng tương quan mạnh mẽ với huyết áp, đường huyết lúc đói, triglyceride, cholesterol HDL, đồng thời làm tăng tỷ lệ mắc tăng huyết áp và đái tháo đường ở cả hai giới (P < 0,05) [1].
Biến đổi mô mỡ theo tuổi tác và giai đoạn mãn kinh
Ảnh hưởng của mỡ bụng thay đổi đáng kể theo thời gian và tình trạng hormone sinh dục [7], [8].
Ở phụ nữ, sự tích tụ mỡ nội tạng và tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa tăng vọt sau mãn kinh [7]. Nghiên cứu phân tích chất chuyển hóa trên 39 phụ nữ (16 tiền mãn kinh và 23 sau mãn kinh) phẫu thuật phụ khoa ghi nhận nồng độ các chất chuyển hóa axit béo trong mỡ nội tạng tăng vọt sau mãn kinh [7]. Cụ thể, octanoate tăng từ 3,52 ± 0,29 lên 5,20 ± 0,29 nmol/g và pelargonate tăng từ 8,03 ± 0,49 lên 10,66 ± 0,44 nmol/g (P < 0,05), trong khi sự thay đổi này hoàn toàn không xuất hiện ở mô mỡ dưới da [7].
Quá trình lão hóa cũng tạo ra sự phân hóa rõ rệt [6], [8]. Ở chuột C57BL/6, tế bào tiền mỡ từ mỡ nội tạng có tốc độ hô hấp tế bào cao hơn và dễ tổn thương hơn khi gặp stress oxy hóa so với tế bào mỡ dưới da [8]. Con đường tín hiệu căng thẳng JNK và ERK/MAPK do tuổi tác cũng kích hoạt mạnh hơn ở mỡ nội tạng [8].
Tuy nhiên, mô mỡ dưới da lại là nơi tích tụ đại thực bào gây viêm theo tuổi tác và có chiều dài telomere ngắn hơn mỡ nội tạng, khiến nó trở thành nguồn đóng góp chính vào gánh nặng tế bào lão hóa của cơ thể [6]. Đáng chú ý, việc duy trì một lượng mô mỡ nhất định lại có xu hướng mang lại lợi ích bảo vệ ở người cao tuổi [6].
Hiểu lầm phổ biến: Hút mỡ bụng có giúp khỏe hơn?
Nhiều người lầm tưởng rằng phẫu thuật hút mỡ bụng dưới da sẽ giúp cải thiện các chỉ số đường huyết hay mỡ máu [4]. Thực tế lâm sàng và nghiên cứu động vật chỉ ra điều ngược lại [4].
Phẫu thuật hút bỏ mỡ dưới da có chọn lọc không mang lại bất kỳ cải thiện ý nghĩa nào cho các bất thường chuyển hóa liên quan đến béo phì [4]. Trên mô hình chuột hamster bị cắt bỏ trên 50% mô mỡ dưới da, tỷ lệ mỡ nội tạng trong ổ bụng tăng lên, chỉ số insulin tăng cao và mỡ trong gan có xu hướng tăng mạnh so với nhóm phẫu thuật giả [4].
Khi mỡ dưới da bị loại bỏ cơ học, cơ thể mất đi "bể đệm" an toàn, buộc chất béo tích tụ ngược vào nội tạng và gan [4]. Hiện tượng tái tích tụ mỡ sau hút mỡ ở người cũng thường chuyển dịch vị trí từ dưới da sang dạng mỡ nội tạng độc hại hơn [4].
Bên cạnh đó, việc nhịn ăn kéo dài cũng có thể kích hoạt hiện tượng "nội tạng hóa" mô mỡ [2]. Thử nghiệm trên chuột cho thấy sau 24 giờ nhịn ăn, mô mỡ dưới da bị biến đổi và mang các đặc tính tương tự mỡ nội tạng thông qua sự gia tăng của microRNA-149-3p nhằm ức chế protein PRDM16 để tiết kiệm năng lượng [2].
Ai nên thận trọng và cách theo dõi
Những người có thân hình mảnh khảnh nhưng "bụng bia", người mắc tiền đái tháo đường, đái tháo đường týp 2 và phụ nữ sau mãn kinh là các nhóm đối tượng cần đặc biệt cảnh giác với sự tích tụ mỡ nội tạng [1], [7]. Mỡ nội tạng không thể nhìn thấy trực tiếp bằng mắt thường và có thể âm thầm gia tăng ngay cả khi cân nặng không thay đổi [1].
Để kiểm soát mỡ nội tạng an toàn, không nên lạm dụng các biện pháp can thiệp thẩm mỹ hút mỡ hay nhịn ăn quá khắt khe [2], [4]. Thay vào đó, cần ưu tiên lối sống lành mạnh bằng cách duy trì hoạt động thể chất đều đặn và chế độ dinh dưỡng cân bằng để giảm tích tụ mỡ thừa ở gan và khoang bụng. Người có bệnh lý nền về chuyển hóa cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi thay đổi chế độ tập luyện hay can thiệp điều trị.
Kiểm soát mỡ bụng không đơn thuần là câu chuyện thẩm mỹ bên ngoài mà là bảo vệ các cơ quan nội tạng bên trong. Lớp mỡ dưới da đóng vai trò bảo vệ nhất định, trong khi mỡ nội tạng là mối nguy hại tiềm tàng cần được kiểm soát thông qua thói quen sống bền vững thay vì các giải pháp can thiệp nóng vội.




