Sau nhiều giờ tập trung cao độ trước màn hình máy tính, nhiều người thường gặp hiện tượng kỳ lạ: vừa ngẩng đầu nhìn ra xa, mọi vật xung quanh bỗng trở nên nhòe mờ, mất vài giây hoặc vài phút mới có thể nhìn rõ lại bình thường. Hiện tượng này xảy ra phổ biến ở giới văn phòng, học sinh, sinh viên và những người thường xuyên chơi game hoặc sử dụng thiết bị điện tử. Không ít người lo lắng liệu đây có phải là dấu hiệu của việc tăng độ cận thị đột ngột hay tổn thương mắt vĩnh viễn.
Hiện tượng mờ mắt thoáng qua khi chuyển tầm nhìn từ gần ra xa thường là biểu hiện điển hình của tình trạng co thắt điều tiết thứ phát (spasm of accommodation), hay còn gọi là cận thị giả (pseudomyopia) [5, 8]. Đây là một rối loạn chức năng của mắt xuất hiện khi cơ thể làm việc nhìn gần quá mức mà không có khoảng nghỉ hợp lý, khiến hệ thống điều tiết của mắt bị "khóa chặt" tạm thời [1].
Cơ chế khiến mắt bị "khóa nét" khi nhìn màn hình
Để hiểu rõ nguyên nhân gây mờ mắt thoáng qua, cần nắm bắt quy tắc hoạt động tự nhiên của mắt khi nhìn gần. Phản xạ nhìn gần bình thường bao gồm ba yếu tố đồng bộ: sự co lại của thể mi (cơ mi), sự hội tụ đồng thời của hai mắt vào trong và sự co nhỏ của đồng tử [1]. Khi nhìn gần, cơ mi phải co liên tục để làm phồng thể thủy tinh, giúp hình ảnh hội tụ chính xác trên võng mạc [5, 8].
Tuy nhiên, khi làm việc với màn hình máy tính hoặc thiết bị điện tử trong nhiều giờ liên tục, cơ thể mi bị đặt vào trạng thái căng thẳng kéo dài và rơi vào trạng thái co thắt không tự chủ [5, 8]. Lúc này, cơ mi không thể thả lỏng ngay lập tức khi bạn ngẩng đầu nhìn ra xa [2]. Hậu quả là thể thủy tinh vẫn giữ nguyên độ cong lớn, khúc xạ mắt tạm thời tăng vọt theo hướng cận thị, khiến các vật ở xa bị nhòe mờ [5, 8]. Tình trạng này làm phóng đại toàn bộ các thay đổi sinh lý bình thường của quá trình điều tiết [2].
Co thắt điều tiết: Rối loạn thường gặp trong hội chứng thị giác màn hình
Tình trạng mờ mắt thoáng qua và co thắt điều tiết là một thành phần quan trọng của hội chứng thị giác màn hình (computer vision syndrome - CVS), hay còn gọi là chứng mỏi mắt điều tiết (accommodative asthenopia) [2, 3]. Các triệu chứng của hội chứng này bắt nguồn từ cả nguyên nhân tại mắt (bất thường bề mặt nhãn cầu, co thắt điều tiết) lẫn ngoài mắt (tư thế công thái học) [3].
Khảo sát cắt ngang công bố năm 2020 trên 420 sinh viên y khoa sử dụng máy tính tại Romania cho thấy tỷ lệ than phiền về mắt rất cao [4]. Các triệu chứng khởi phát sớm phổ biến nhất được ghi nhận gồm: mỏi mắt hoặc căng mắt chiếm 86,1%, nóng rát mắt chiếm 46,8%, đau nửa đầu hoặc đau đầu chiếm 46,8%, mắt đỏ hoặc sưng chiếm 43%, sợ ánh sáng chiếm 41,8%, nhìn mờ tạm thời chiếm 35,4%, và co thắt mí mắt chiếm 32,9% [4]. Các nhà nghiên cứu nhận định chứng mỏi mắt điều tiết có thể được coi là một bệnh nghề nghiệp đang bị xem nhẹ, dẫn đến việc chẩn đoán dưới mức thực tế [4].
Ngoài ra, tình trạng khô mắt cũng là yếu tố đóng góp lớn vào các triệu chứng của hội chứng thị giác màn hình [3]. Khi nhìn chăm chú vào màn hình, các yếu tố môi trường như ánh sáng không phù hợp, độ chói, chất lượng hiển thị, tần số quét và bức xạ đều có thể làm gia tăng sự khó chịu cho thị giác [3].
Bằng chứng khoa học về tác động của việc nhìn gần kéo dài
Các nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng đã làm rõ mối liên hệ trực tiếp giữa thời gian sử dụng thiết bị và sự suy giảm chức năng điều tiết của mắt:
Nghiên cứu can thiệp năm 2019 đánh giá tác động của việc chơi game máy tính liên tục trên 50 sinh viên đại học khỏe mạnh (35 nam, 15 nữ, độ tuổi từ 19 đến 35) [5]. Các đối tượng tham gia không có bệnh lý mắt trước đó và chơi game liên tục suốt 4 giờ từ 18h00 đến 22h00 [5]. Kết quả đo lường trước và sau thử nghiệm cho thấy: việc sử dụng máy tính liên tục 4 giờ gây rối loạn khả năng hội tụ và điều tiết, làm gia tăng khó chịu về thể chất và thị giác [5]. Thị sai nhìn gần có xu hướng lệch ra ngoài (exophoric shift), khả năng linh hoạt của điều tiết và hợp quy suy giảm rõ rệt, đồng thời tốc độ chớp mắt giảm đáng kể [5]. Điểm đáng mừng là toàn bộ các chức năng thị giác này đã hồi phục hoàn toàn về mức ban đầu vào sáng hôm sau khi mắt được nghỉ ngơi [5].
Nghiên cứu hồi cứu năm 2021 phân tích loạt ca lâm sàng gồm 22 bệnh nhân (19 nữ, 3 nam; độ tuổi từ 7 đến 33, trung vị 10 tuổi) được chẩn đoán mắc co thắt phản xạ nhìn gần (SNR) hoặc co thắt điều tiết (AS) [6]. Trong đó, 17 người bị co thắt điều tiết đơn thuần và 5 người bị co thắt phản xạ nhìn gần, với triệu chứng phổ biến nhất là nhìn mờ từng đợt kèm đau đầu [6]. Đáng chú ý, có tới 90% bệnh nhân báo cáo thời gian dùng màn hình hàng ngày kéo dài trên 2 giờ mỗi ngày, và 55% trường hợp có căng thẳng xã hội hoặc yếu tố kích hoạt tâm lý đi kèm [6].
Một báo cáo ca lâm sàng năm 2014 mô tả trường hợp thiếu nữ 17 tuổi có tiền sử cận thị -2 đi-ốp [2]. Sau khi đọc sách kéo dài dưới ánh sáng mờ, bệnh nhân bị nhìn mờ đột ngột hai mắt kèm đau đầu nhẹ và căng mắt [2]. Hồ sơ ghi nhận độ khúc xạ của bệnh nhân tăng vọt lên -4 đi-ốp ngay trong ngày xuất hiện triệu chứng và được kê kính mới ngay lập tức [2]. Ba ngày sau, kiểm tra khúc xạ ghi nhận độ cận thực tế lên tới -7 đi-ốp ở mắt phải và -7,5 đi-ốp ở mắt trái [2]. Hình ảnh bán phần trước cho thấy co đồng tử và tiền phòng nông [2]. Đây là minh chứng rõ ràng cho việc co thắt điều tiết có thể tạo ra độ cận giả rất lớn nếu không được phát hiện chính xác [2].
Nguyên nhân đa dạng và những hiểu lầm thường gặp
Co thắt điều tiết không chỉ đơn thuần do nhìn màn hình vi tính. Một đánh giá hệ thống năm 2023 tổng hợp từ 28 báo cáo ca bệnh, 6 nghiên cứu đoàn hệ, 4 sách tham khảo, 4 bài tổng quan và 2 nghiên cứu so sánh đã chỉ ra các nguyên nhân phổ biến nhất bao gồm: làm việc nhìn gần quá mức, căng thẳng cảm xúc, chấn thương đầu và lác mắt [1]. Khúc xạ không ổn định, phản xạ soi bóng đồng tử biến thiên và hiện tượng dư thừa điều tiết khi soi bóng nhìn gần là các dấu hiệu thường gặp [1].
Nghiên cứu năm 2021 cũng ghi nhận hiện tượng dao động khúc xạ điều tiết có thể xuất hiện sau chấn động não [7]. Ca bệnh thứ nhất ghi nhận một người bị 2 lần chấn động não liên quan thể thao, sau 28 tháng vẫn bị dao động khúc xạ cận thị từ -0,25 đến -1,75 đi-ốp lặp lại 10 lần chỉ trong 4,2 giây đo [7]. Ca bệnh thứ hai sau chấn thương nổ 7 năm có dao động từ +0,50 đến -2,00 đi-ốp xảy ra 7 lần trong 44 giây đo, kèm giảm khả năng dung nạp màn hình điện tử [7].
Hiểu lầm tai hại phổ biến nhất hiện nay là khi thấy mắt mờ sau thời gian dài làm việc, người bệnh tự ý đi đo mắt tại các cơ sở kính thuốc thông thường và vội vã cắt kính có độ cận cao hơn [1, 5]. Việc đo kính trong lúc mắt đang bị co thắt sẽ ghi nhận kết quả cận thị giả [5, 8]. Đeo cặp kính có độ cận quá cao này vô tình bắt thể mi phải gồng gánh nhiều hơn, khiến tình trạng co thắt và mỏi mắt trở nên trầm trọng [2].
Nhiều người cũng dễ bị lo lắng thái quá dẫn đến các xét nghiệm xâm lấn không cần thiết. Nghiên cứu trên 22 bệnh nhân cho thấy 27% trường hợp đã phải chụp chẩn đoán hình ảnh não dù chỉ 1 người có tiền sử chấn thương não, 2 bệnh nhân phải đo điện thế gợi thị giác, và 3 bệnh nhân bị chọc dò tủy sống kèm truyền steroid tĩnh mạch [6]. Việc thực hiện các xét nghiệm thừa thãi và mất thời gian này có thể làm phóng đại các rối loạn tâm lý nền của bệnh nhân [6].
Ai nên thận trọng với tình trạng mờ mắt do điều tiết?
Những đối tượng sau đây cần đặc biệt lưu ý và theo dõi sát sao sức khỏe mắt:
- Trẻ em, học sinh và thanh thiếu niên: Độ tuổi này có biên độ điều tiết mắt rất lớn nhưng cơ mi cũng dễ bị co thắt dữ dội khi học tập căng thẳng hoặc dùng thiết bị quá 2 giờ mỗi ngày [6].
- Nhân viên văn phòng, lập trình viên, người chơi game máy tính liên tục từ 4 giờ trở lên mà không nghỉ giải lao [5].
- Người có tiền sử chấn thương vùng đầu, chấn động não do tai nạn hoặc thể thao [6, 8].
- Những người đang trải qua căng thẳng tâm lý, lo âu, biến cố tình cảm hoặc rối loạn phân ly [1, 5, 8].
- Người có tật khúc xạ chưa được chỉnh kính đúng độ hoặc có tình trạng lác mắt, rối loạn hợp quy [1].
Lưu ý quan trọng: Co thắt điều tiết không thể tự chẩn đoán tại nhà. Nếu hiện tượng mờ mắt kéo dài, kèm đau đầu dữ dội, nhìn đôi, lác mắt hoặc không tự phục hồi sau khi nghỉ ngơi, người bệnh cần đi khám chuyên khoa mắt để được đánh giá toàn diện, không được tự ý nhỏ thuốc hay đổi kính [1, 2].
Các phương pháp can thiệp và phục hồi khoa học
Khi được chẩn đoán chính xác, co thắt điều tiết và các rối loạn thị giác chức năng có thể được xử lý hiệu quả thông qua nhiều biện pháp y khoa:
Trong chẩn đoán và điều trị y khoa, thuốc nhỏ mắt làm liệt điều tiết (như cyclopentolate hoặc atropine 1%) là công cụ hiệu quả giúp cơ mi thả lỏng hoàn toàn [1, 8]. Nghiên cứu năm 2021 xác định chẩn đoán co thắt điều tiết khi có nhìn mờ và chênh lệch từ 2 đi-ốp trở lên giữa khúc xạ trước và sau khi làm liệt điều tiết [6]. Điều trị bao gồm giải thích kỹ tình trạng bệnh, dùng thuốc nhỏ mắt atropine 1% và chỉnh kính hai tròng đủ độ liệt điều tiết [6]. Triệu chứng dao động điều tiết ở bệnh nhân chấn động não cũng được giải quyết hoàn toàn sau 3 tuần dùng atropine 1% [7]. Kỹ thuật làm mờ quang học cải tiến (modified optical fogging), kính hai tròng nhìn gần, lăng kính đáy trong (base-in prisms) và các bài tập thị giác (vision therapy) cũng là những lựa chọn quản lý hiệu quả [1].
Nghiên cứu năm 2019 trên 56 học sinh (8-17 tuổi) bị rối loạn thị giác chức năng (trong đó có 7 em bị co thắt điều tiết và 49 em bị liệt hoặc bán liệt điều tiết) cho thấy phương pháp phục hồi chức năng phức hợp tác động lên cơ mi, phản xạ điều tiết, vi sai võng mạc và khả năng dung hợp đã giúp phục hồi chức năng phân tích thị giác sau 15-20 buổi điều trị [8]. Việc can thiệp giúp chuẩn hóa biên độ điều tiết, tăng dự trữ dung hợp, khôi phục thị giác hai mắt và chấm dứt hoàn toàn triệu chứng mỏi mắt [8].
Gợi ý điều chỉnh lối sống giúp bảo vệ mắt mỗi ngày
Đối với người làm việc thường xuyên với máy tính, việc thay đổi thói quen đóng vai trò then chốt để ngăn chặn tình trạng co thắt cơ mi:
- Tuân thủ giờ nghỉ định kỳ: Nghiên cứu thực nghiệm chứng minh sự suy giảm điều tiết xuất hiện sau 4 giờ nhìn liên tục, do đó cần bố trí các khoảng nghỉ giải lao thường xuyên để mắt hồi phục độ nhạy bén [2, 4].
- Tối ưu hóa góc làm việc: Điều chỉnh vị trí màn hình máy tính theo chuẩn công thái học, đảm bảo ánh sáng phòng làm việc đầy đủ, không để ánh sáng phản chiếu gây lóa và sử dụng màng lọc chống lóa trên màn hình [3].
- Chăm sóc bề mặt nhãn cầu: Sử dụng nước mắt nhân tạo để bôi trơn bề mặt mắt, giúp giảm triệu chứng khô mắt và khó chịu thị giác khi làm việc văn phòng [3].
- Sử dụng kính hỗ trợ phù hợp: Có thể cân nhắc kính chuyên dụng dùng cho máy tính hoặc kính hai tròng theo tư vấn của bác sĩ chuyên khoa mắt để giảm gánh nặng điều tiết khi làm việc gần [1, 2, 8].
Tình trạng mờ mắt thoáng qua khi vừa rời màn hình máy tính phần lớn là lời cảnh báo cho thấy đôi mắt đang bị quá tải và cần được nghỉ ngơi [2, 4]. Thay vì lo lắng thái quá hay vội vàng tăng độ kính cận, mỗi người nên chủ động cải thiện điều kiện làm việc và cho mắt những khoảng nghỉ hợp lý [2, 4]. Khi triệu chứng nhìn mờ xuất hiện thường xuyên hoặc đi kèm đau đầu dai dẳng, hãy đến cơ sở chuyên khoa mắt để được thăm khám khúc xạ liệt điều tiết chuẩn xác [1, 8].




