Nhiều người có cân nặng chuẩn, tay chân thon thả nhưng vùng bụng lại tích tụ một lượng mỡ thừa rõ rệt. Tình trạng này trong y khoa thường gọi là béo phì bụng ở người có cân nặng bình thường (Normal Weight Central Obesity), hay dân dã gọi là thể trạng TOFI (Thin Outside, Fat Inside - ngoài gầy trong béo). Không ít người chủ quan cho rằng bản thân không thừa cân thì không có nguy cơ bệnh tật.
Thực tế hoàn toàn ngược lại. Dữ liệu y khoa khẳng định người có cân nặng bình thường nhưng béo bụng phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh tim mạch, xơ vữa động mạch, rối loạn chuyển hóa và tử vong sớm cao hơn đáng kể so với người béo phì toàn thân nhưng mỡ phân bố đều [1].
Ẩn họa từ lớp mỡ nội tạng
Chỉ số khối cơ thể (BMI) chỉ phản ánh mối tương quan giữa chiều cao và cân nặng mà không cho biết mỡ nằm ở đâu. Khi một người có vẻ ngoài gầy nhưng bụng to, lượng mỡ dư thừa chủ yếu là mỡ nội tạng bao quanh các cơ quan quan trọng như gan, tụy và ruột [2].
Lớp mỡ nội tạng này hoạt động như một cơ quan nội tiết bất thường, liên tục giải phóng các chất gây viêm và axit béo tự do vào hệ tuần hoàn. Tình trạng tích tụ mỡ trung tâm làm thay đổi cấu trúc tim và gây rối loạn chức năng tim mạch, thậm chí là yếu tố dự báo suy giảm chức năng tim chuẩn xác hơn cả chỉ số BMI truyền thống [2].
Bằng chứng khoa học về nguy cơ tim mạch và tiểu đường
Hàng loạt nghiên cứu quy mô lớn trên thế giới đã bóc tách cụ thể các mối nguy sức khỏe ở nhóm người có thể trạng này:
Một nghiên cứu dịch tễ học tại Trùng Khánh (Trung Quốc) công bố năm 2010 tiến hành trên 20.000 người trưởng thành từ 18 đến 59 tuổi [3]. Trong số 11.612 người có cân nặng bình thường (BMI từ 18,5 đến dưới 24 kg/m²), có tới 1.801 người (chiếm 15,51%) mắc béo bụng, xác định bằng tỷ lệ vòng eo trên chiều cao (WHR) từ 0,5 trở lên [3]. Phân tích chỉ ra nhóm béo bụng có vòng eo trung bình 84,47 cm so với 73,71 cm ở nhóm không béo bụng [3]. Đồng thời, huyết áp tâm trương (78,22 mmHg so với 72,85 mmHg), chất béo trung tính triglyceride (1,97 mmol/L so với 1,22 mmol/L), cholesterol toàn phần (5,04 mmol/L so với 4,66 mmol/L) và đường huyết khi đói (5,25 mmol/L so với 4,94 mmol/L) đều cao hơn hẳn nhóm đối chứng [3]. Phân tích hồi quy logistics ghi nhận nhóm này có nguy cơ tăng huyết áp tâm thu cao gấp 1,28 lần, tăng huyết áp tâm trương cao gấp 1,49 lần và đường huyết cao gấp 1,31 lần so với nhóm bình thường [3].
Nghiên cứu Bogalusa Heart Study công bố năm 2009 trên 639 người trẻ tuổi có cân nặng bình thường (BMI từ 18,5 đến 24,9 kg/m², từ 20 đến 44 tuổi, gồm 75% người da trắng và 36% nam giới) cũng cho kết quả tương đồng [4]. Nhóm béo bụng (tỷ lệ vòng eo trên chiều cao từ 0,5 trở lên) có huyết áp tâm trương, huyết áp động mạch trung bình, cholesterol xấu LDL, triglyceride, axit uric, protein phản ứng C (chỉ số viêm CRP) và men gan (ALT, GGT) cao hơn rõ rệt sau khi đã hiệu chỉnh theo tuổi, chủng tộc và giới tính [4]. Đáng chú ý, nhóm béo bụng có nguy cơ rơi vào nhóm có mức kháng insulin cao nhất gấp 2,9 lần và mức viêm CRP cao nhất gấp 2,5 lần [4]. Bề dày lớp nội mạc trung mạc động mạch cảnh - dấu hiệu cảnh báo xơ vữa động mạch cận lâm sàng - ở nhóm béo bụng cũng dày hơn đáng kể so với nhóm đối chứng (0,76 mm so với 0,71 mm) [4].
Tại Nhật Bản, một nghiên cứu cắt ngang công bố năm 2019 khảo sát trên hơn 110.000 người trung niên [5]. Các tác giả ghi nhận người có cân nặng bình thường nhưng béo bụng có tỷ lệ mắc bệnh tim mạch cao hơn rõ rệt, đặc biệt là nguy cơ tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và đái tháo đường gia tăng ở cả hai giới [5]. Do có cân nặng chuẩn, những đối tượng này thường bị bỏ sót trong giáo dục sức khỏe và can thiệp y tế phòng ngừa sớm [5].
Tại Thiểm Tây (Trung Quốc), nghiên cứu năm 2021 trên 2.312 người dân (936 nam và 1.376 nữ) từ 18 đến 80 tuổi ghi nhận tỷ lệ béo bụng ở người có BMI bình thường lên tới 58,3% [6]. Tỷ số chênh (OR) đối với bệnh tăng huyết áp là 1,47 ở nam và 1,55 ở nữ; đối với rối loạn lipid máu là 2,71 ở nam và 1,84 ở nữ so với người có cân nặng bình thường nhưng không béo bụng [6].
Một khảo sát cắt ngang năm 2017 tại Nam Phi trên 998 người lớn tại ba phòng khám ngoại trú lớn cho thấy tỷ lệ béo bụng ở người có cân nặng bình thường dao động từ 26,9% đến 36,9% tùy theo thước đo sử dụng [7]. Nghiên cứu chỉ ra béo bụng liên quan có ý nghĩa với bệnh tăng huyết áp ở nhóm cân nặng bình thường, mặc dù chưa ghi nhận mối liên quan trực tiếp với bệnh tiểu đường trong cỡ mẫu này [7].
Nguy cơ tử vong sớm cao bất ngờ
Nghiên cứu trên 15.184 người từ 18 đến 90 tuổi dựa trên dữ liệu Khảo sát Sức khỏe và Dinh dưỡng Quốc gia Hoa Kỳ (NHANES III) công bố năm 2016 đã đưa ra con số báo động [1]. Những người có cân nặng bình thường nhưng béo bụng có tỷ lệ sống sót lâu dài thấp nhất [1]. Cụ thể, một người đàn ông có BMI bình thường (22 kg/m²) nhưng béo bụng có nguy cơ tử vong chung cao hơn 87% so với người cùng chỉ số BMI nhưng không béo bụng (HR: 1,87) [1]. Nguy cơ tử vong của người này thậm chí còn cao gấp đôi so với người thừa cân hoặc béo phì tính theo BMI thuần túy (HR lần lượt là 2,24 và 2,42) [1]. Phụ nữ có cân nặng chuẩn nhưng béo bụng cũng chịu nguy cơ tử vong cao hơn 48% so với phụ nữ cùng BMI không béo bụng và cao hơn 32% so với người béo phì chỉ tính theo BMI [1].
Nghiên cứu theo dõi tiến cứu từ năm 1993 đến 2017 trên 156.624 phụ nữ sau mãn kinh tại Mỹ (công bố năm 2019) cũng khẳng định béo bụng ở người cân nặng bình thường làm tăng nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân, tử vong do tim mạch và tử vong do ung thư [8]. Mức độ rủi ro tử vong ở nhóm này tương đương với nhóm vừa béo phì toàn thân vừa béo bụng, đồng thời cao hơn các nhóm hình thái cơ thể khác [8].
Hiểu lầm thường gặp và giới hạn bằng chứng
Hiểu lầm phổ biến nhất là chỉ dựa vào chiếc cân điện tử để đánh giá sức khỏe. Cân nặng hay BMI bình thường không đồng nghĩa với hệ mạch máu và chuyển hóa hoàn toàn khỏe mạnh [6, 8]. Nhiều người thấy mình không thừa cân nên vô tư ăn ngọt, lười vận động, khiến mỡ nội tạng âm thầm tích tụ.
Về giới hạn bằng chứng, một số nghiên cứu kể trên là nghiên cứu cắt ngang nên chưa thể khẳng định hoàn toàn mối quan hệ nhân quả một chiều [5, 6, 8]. Nghiên cứu NHANES III đánh giá phân bố mỡ qua số đo nhân trắc học và bệnh mắc kèm qua tự khai báo của người tham gia [1]. Dẫu vậy, kích thước mẫu hàng chục nghìn đến hàng trăm nghìn người qua nhiều chủng tộc đã chứng minh tính nhất quán của mối liên hệ nguy hiểm này [1, 4, 6].
Ai nên thận trọng?
Những người có lối sống ít vận động, làm việc văn phòng ngồi nhiều trên 8 tiếng mỗi ngày cần đặc biệt chú ý. Những người có chế độ ăn nhiều đường, đồ ngọt, dầu mỡ nhưng tạng người gầy gò bẩm sinh rất dễ tích mỡ nội tạng.
Nghiên cứu ghi nhận nguy cơ béo bụng ở nhóm có BMI bình thường gia tăng theo độ tuổi, đặc biệt ở người trên 30 tuổi [7], người trên 58 tuổi [6] và phụ nữ sau mãn kinh [8]. Phụ nữ có tỷ lệ béo bụng cao hơn nam giới ở cùng nhóm cân nặng bình thường [5, 8]. Nếu trong gia đình có tiền sử đái tháo đường tuýp 2 hoặc bệnh mạch vành sớm, sự xuất hiện của vòng eo lớn là dấu hiệu cần tầm soát y tế ngay.
Cách theo dõi và cải thiện tại nhà
Để xác định sớm, cách đơn giản nhất là đo tỷ lệ vòng eo trên chiều cao: lấy thước dây đo vòng bụng ngang rốn, chia cho chiều cao cơ thể. Nếu con số này từ 0,5 trở lên, bạn đã thuộc nhóm béo bụng và cần điều chỉnh lối sống [1, 2].
Về vận động, cần kết hợp các bài tập tăng cường khối cơ (kháng lực) cùng các bài tập tim mạch như đi bộ nhanh, chạy bộ, bơi lội để đốt cháy mỡ nội tạng. Khối cơ suy giảm là một trong những nguyên nhân khiến mỡ dễ chiếm chỗ dù cân nặng không tăng.
Về ăn uống, cần cắt giảm tối đa thực phẩm nhiều đường tinh luyện, nước ngọt có ga, bánh kẹo và các món chiên xào nhiều dầu mỡ. Tăng cường chất xơ từ rau xanh, ngũ cốc nguyên hạt và cung cấp đủ đạm lành mạnh từ cá, thịt nạc, các loại đậu.
Người phát hiện bản thân có thể trạng TOFI nên chủ động đến các cơ sở y tế kiểm tra định kỳ huyết áp, đường huyết lúc đói, chỉ số men gan và bộ mỡ máu [1, 2]. Thay đổi lối sống là nền tảng cốt lõi, nhưng nếu đã có rối loạn chuyển hóa hay huyết áp tăng, người bệnh cần tuân thủ nghiêm ngặt phác đồ điều trị của bác sĩ chuyên khoa.




