Nhiều người mắc bệnh thận mạn tính (CKD) thường e ngại vận động vì lo sợ rằng việc đi lại nhiều sẽ làm thận hoạt động quá tải và khiến lượng đạm rò rỉ vào nước tiểu tăng lên. Sự lo lắng này khiến không ít bệnh nhân lựa chọn lối sống bất động, hạn chế tối đa các hoạt động thể chất hằng ngày.
Thực tế, đi bộ ở cường độ trung bình không làm tổn hại cấu trúc thận và không khiến tình trạng mất protein qua nước tiểu trở nên trầm trọng hơn về lâu dài. Hiện tượng rò rỉ đạm nếu có thường chỉ mang tính chất thoáng qua do sự thay đổi sinh lý tạm thời và các nghiên cứu khoa học cho thấy vận động hợp lý còn hỗ trợ ổn định chức năng thận [1], [2].
Cầu thận thay đổi ra sao khi đi bộ mức trung bình?
Màng lọc cầu thận hoạt động như một tấm lưới siêu mịn giúp giữ lại các phân tử protein quan trọng như albumin trong máu và chỉ cho phép chất thải cùng lượng nước thừa thoát ra ngoài. Khi cơ thể chuyển từ trạng thái nghỉ ngơi sang vận động thể lực, nhu cầu máu tại các cơ bắp tăng vọt, dẫn đến sự phân bố lại dòng máu trên toàn hệ thống tuần hoàn [1].
Tại thận, sự co mạch có thể làm biến thiên huyết động dòng máu và áp lực lọc tại các quản cầu thận, đồng thời sự thiếu oxy mô cục bộ và tích tụ lactate có thể làm tăng nhẹ tính thấm tạm thời của màng lọc [1]. Tuy nhiên, các yếu tố này chủ yếu kích hoạt khi vận động gắng sức ở cường độ cao; với hoạt động vừa phải như đi bộ, những thay đổi tuần hoàn này diễn ra êm dịu hơn và hiện tượng đạm niệu sau tập luyện thường chỉ kéo dài ngắn hạn từ 1 đến 6 ngày rồi tự trở về mức ban đầu [1].
Hiện tượng protein niệu hay tiểu ra máu sau vận động nhìn chung mang tính chất lành tính, trong đó tiến triển dẫn tới tổn thương thận vĩnh viễn là rất hiếm gặp [1].
Bằng chứng khoa học: Tập luyện và lượng protein trong nước tiểu
Nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện để giải tỏa nỗi lo ngại về tác động tiêu cực của vận động đối với chức năng thận ở bệnh nhân CKD.
Một tổng quan hệ thống phân tích các tài liệu từ năm 1994 đến tháng 11 năm 2014 thu thập 194 kết quả liên quan từ 519 tóm tắt nghiên cứu, bao gồm 125 tài liệu trên người khỏe mạnh và 139 tài liệu trên bệnh nhân có bệnh lý thận [1]. Kết quả cho thấy tỷ lệ xuất hiện đạm niệu do vận động dao động rất rộng từ 18% đến 100%, nhưng việc tập luyện ở cường độ vừa phải (moderate training) lại giúp làm giảm mức đạm niệu vận động ở cả người khỏe mạnh lẫn bệnh nhân có bệnh thận mạn tính [1].
Để đánh giá định lượng tác động dài hạn, một phân tích gộp công bố năm 2020 trên 11 nghiên cứu gồm 623 người trưởng thành mắc bệnh thận mạn chưa phải điều trị thay thế thận đã làm rõ bức tranh này [3]. Phân tích nội bộ nhóm can thiệp cho thấy mức protein niệu 24 giờ giảm có ý nghĩa thống kê (khác biệt trung bình chuẩn hóa SMD = 0,48; khoảng tin cậy 95% CI: 0,08 đến 0,88) [3]. Tỷ lệ albumin trên creatinin niệu (UACR) trong phân tích nội bộ nhóm cũng ghi nhận mức giảm đáng kể (SMD = 0,21; 95% CI: 0,04 đến 0,38) [3]. Mặc dù phân tích so sánh giữa các nhóm đối chứng không ghi nhận sự thay đổi rõ rệt đối với tỷ lệ protein trên creatinin niệu (UPCR) hay UACR (SMD = 0,06; 95% CI: -0,54 đến 0,67), kết quả khẳng định tập luyện hoàn toàn không làm gia tăng rò rỉ đạm [3].
Tính an toàn này tiếp tục được củng cố qua một phân tích gộp khác năm 2020 tổng hợp các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên từ năm 2007 đến 2018 trên bệnh nhân thận mạn chưa chạy thận nhân tạo [4]. Kết quả đối chứng không tìm thấy bất kỳ sự khác biệt bất lợi nào về độ lọc cầu thận (SMD = -0,3; P = 0,81) cũng như mức protein niệu (SMD = 26,6; P = 0,82) giữa nhóm tập luyện và nhóm không tập [4]. Ngược lại, nhóm vận động cải thiện rõ rệt lượng tiêu thụ oxy đỉnh (SMD = 2,5; P < 0,001), năng lực chức năng (SMD = 56,6; P < 0,001), sức mạnh chi trên (SMD = 6,8; P < 0,001), nồng độ hemoglobin (SMD = 0,3; P = 0,003) và chất lượng cuộc sống theo thang đo SF-36 (SMD = 6,66; P = 0,02) [4].
Tại Nhật Bản, một nghiên cứu can thiệp đơn nhóm kéo dài 6 tháng trên 47 bệnh nhân thận mạn ổn định cho thấy chương trình tập luyện vừa phải giúp tăng số bước chân hằng ngày từ mức 6.141 ± 2.620 lên 7.679 ± 3.026 bước (P < 0,001) [2]. Kết thúc can thiệp, bài kiểm tra đi bộ 6 phút tăng từ 501,6 ± 63,8 lên 528,7 ± 71,8 mét (P = 0,02), huyết áp và cân nặng giảm rõ rệt mà không có sự suy giảm độ lọc cầu thận ước tính, thậm chí đạm niệu đã giảm rõ rệt ở 21 bệnh nhân [2].
Một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng sơ bộ trong 24 tuần trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2 kèm béo phì (chỉ số BMI > 30 kg/m²) và mắc bệnh thận mạn giai đoạn 2 đến 4 (eGFR 15-90 mL/phút/1,73 m² có đạm niệu dai dẳng) cũng ghi nhận kết quả tích cực [5]. Các bệnh nhân tập aerobic 3 lần mỗi tuần đã tăng thời gian gắng sức trên thảm lăn, đi kèm xu hướng giảm nhẹ huyết áp tâm thu lúc nghỉ và protein niệu 24 giờ mà không làm suy giảm độ lọc cầu thận GFR [5].
Ngoài ra, dữ liệu từ 292.013 người tham gia kiểm tra sức khỏe tại Nhật Bản cho thấy thói quen tập luyện thể dục thường xuyên có mối liên quan độc lập với việc giảm tỷ lệ mắc protein niệu và suy giảm chức năng thận ở cả nam và nữ [6].
Lợi ích thể chất vượt trội so với lo ngại thoáng qua
Tình trạng teo cơ và suy giảm thể lực là rủi ro rất phổ biến ở bệnh nhân CKD nếu duy trì lối sống ít vận động [2]. Nằm nghỉ hoặc ngồi một chỗ quá mức không bảo vệ được quả thận mà trái lại còn làm sụt giảm khối cơ, tăng biến cố tim mạch và tăng tỷ lệ tử vong [2].
Các nghiên cứu khoa học đều chỉ ra rằng việc tập thể dục mức độ thấp đến trung bình thường xuyên không gây ảnh hưởng tiêu cực lên chức năng bài tiết của thận [4]. Trái lại, hoạt động như đi bộ giúp cải thiện dung tích hiếu khí, tăng cường khả năng vận động chức năng, hỗ trợ kiểm soát huyết áp và nâng cao chỉ số chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [2], [4].
Những hiểu lầm thường gặp về protein niệu khi tập luyện
Hiểu lầm lớn nhất của người bệnh là đồng nhất hiện tượng tăng đạm niệu sinh lý thoáng qua sau khi vận động với sự tổn thương mô thận thực thể. Đạm niệu do vận động gắng sức có thể xuất hiện do sự biến đổi huyết động mạch máu, áp lực oxy giảm tạm thời hoặc biến đổi nội tiết, nhưng hiện tượng này tự thoái lui trong 1 đến 6 ngày và rất hiếm khi để lại tổn hại vĩnh viễn [1].
Một sai lầm khác là cho rằng cứ mắc bệnh thận thì việc nghỉ ngơi tuyệt đối là phương án tối ưu. Các chuyên gia y tế nhấn mạnh việc khuyến khích người bệnh vận động phù hợp quan trọng hơn việc để họ nằm nghỉ quá mức, giúp ngăn chặn suy mòn cơ bắp và duy trì khả năng tự chủ sinh hoạt [2].
Ai nên thận trọng khi vận động thể chất?
Mặc dù đi bộ là phương pháp vận động rất an toàn, người bệnh có mức chỉ số khối cơ thể (BMI) quá cao cần theo dõi kỹ lưỡng hơn. Dữ liệu dịch tễ trên quy mô lớn chỉ ra rằng tình trạng béo phì có thể làm suy giảm hoặc triệt tiêu mối liên kết có lợi giữa thói quen tập luyện và tỷ lệ giảm đạm niệu ở nam giới [6].
Bên cạnh đó, các yếu tố môi trường và cường độ tập luyện ảnh hưởng rất lớn đến phản ứng của thận. Nguy cơ xuất hiện protein niệu tăng cao khi người bệnh tập luyện trong điều kiện nhiệt độ quá nóng, địa hình trên cao, hoặc vận động ở cường độ quá tải [1]. Bệnh nhân CKD đang trong giai đoạn bệnh tiến triển nặng chưa ổn định hoặc đi kèm các bệnh lý cấp tính cần tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị trước khi thay đổi chế độ hoạt động thể chất.
Lời khuyên đi bộ đúng cách cho người bệnh thận mạn
Bệnh nhân CKD nên duy trì hoạt động đi bộ ở tốc độ vừa phải, bước đi thoải mái và nhịp thở đều đặn, tránh gắng sức đến mức hụt hơi hoặc kiệt sức. Việc duy trì mục tiêu tăng dần số bước chân mỗi ngày tương tự như mức tăng từ hơn 6.000 bước lên trên 7.600 bước đã được ghi nhận đem lại chuyển biến tích cực cho thể lực [2].
Thời điểm lý tưởng để đi bộ là vào sáng sớm hoặc chiều mát nhằm hạn chế gánh nặng nhiệt độ lên cơ thể [1]. Người bệnh nên chọn giày đi bộ êm ái, vừa vặn để giảm lực tác động lên bàn chân [1]. Người có bệnh nền phức tạp hoặc đang sử dụng thuốc điều trị cần thảo luận trực tiếp với bác sĩ chuyên khoa để xây dựng kế hoạch tập luyện an toàn và cá nhân hóa.




