Bước vào những tháng cuối thai kỳ, nhiều phụ nữ nhận thấy đôi giày quen thuộc bỗng trở nên chật chội, mắt cá chân sưng húp mỗi chiều. Thắc mắc phổ biến là liệu tình trạng phù chân này chỉ do thay đổi sinh lý bình thường hay đang cảnh báo biến chứng nguy hiểm.
Câu trả lời ngắn gọn là: Phù chân đơn thuần, xuất hiện muộn sau tuần thứ 28 và không kèm theo dấu hiệu bất thường khác thì phần lớn là lành tính [1]. Tuy nhiên, nếu phù xuất hiện sớm trước 28 tuần, hoặc đi kèm tăng huyết áp từ 140/90 mmHg trở lên, có đạm trong nước tiểu, đau đầu, mờ mắt, khó thở thì đây là dấu hiệu cảnh báo tiền sản giật cần thăm khám ngay [1, 2].
Tại sao cơ thể bà bầu giữ nước và khi nào thành bệnh lý?
Trong thai kỳ bình thường, thể tích máu của người mẹ tăng thêm gần 2 lít để đáp ứng nhu cầu nuôi dưỡng thai nhi [2]. Sự gia tăng thể tích tuần hoàn lớn này tạo áp lực lên hệ mạch máu, dễ dẫn đến hiện tượng giữ nước sinh lý ở vùng thấp của cơ thể như bàn chân và cổ chân.
Tuy nhiên, khi sự thay đổi thể tích máu đi kèm tổn thương mạch máu, tình trạng giữ nước chuyển sang hướng bệnh lý [2]. Tiền sản giật là rối loạn tăng huyết áp thai kỳ, thường khởi phát sau tuần thứ 20 với mức huyết áp tâm thu từ 140 mmHg trở lên hoặc huyết áp tâm trương từ 90 mmHg trở lên ở người trước đó có huyết áp bình thường [1, 5].
Các nhà khoa học phân biệt hai dạng tiền sản giật chính dựa trên tình trạng mạch máu và thể tích máu [2]. Dạng thứ nhất liên quan đến hệ mạch giãn và cung lượng tim cao, trong đó béo phì là yếu tố nguy cơ quan trọng gây giữ nước nhiều hơn, khởi đầu bằng phù chi dưới và suy yếu lớp nội mô mạch máu [2].
Dạng thứ hai là tiền sản giật "cổ điển" gồm hai giai đoạn, bắt đầu từ sự kém phát triển của nhau thai [2]. Nhau thai thiếu máu nuôi tiết ra các chất gây tổn thương lớp tế bào lót bên trong mạch máu (nội mô) của mẹ, dẫn đến co mạch và huyết khối vi mạch [2]. Ở giai đoạn cuối của thể bệnh này, thành mao mạch tăng tính thấm khiến dịch thoát ra ngoài, tạo nên hiện tượng phù rõ rệt đi kèm tổn thương đa cơ quan [2].
Ngoài ra, tiền sản giật còn gây tổn thương vi mạch tại thận, làm suy giảm chức năng lọc và gây thoát protein ra nước tiểu (protein niệu) [3]. Khi thận suy giảm chức năng làm lượng nước tiểu giảm xuống, cơ thể sẽ phát triển tình trạng phù kèm theo cảm giác khó thở [3].
Dấu hiệu nhận diện phù cảnh báo tiền sản giật
Điểm khác biệt cốt lõi giữa phù sinh lý và phù do tiền sản giật nằm ở các triệu chứng đi kèm phản ánh tổn thương cơ quan đích [1, 7]. Phù do tiền sản giật thường xuất hiện cùng tăng huyết áp trên 140/90 mmHg và protein niệu sau tuần thai thứ 20 [1, 4].
Người bệnh có thể gặp các cơn đau đầu dữ dội do co thắt động mạch não hoặc phù não [3]. Rối loạn thị giác như nhìn mờ, thay đổi thị lực hoặc mất thị lực cũng có thể xảy ra khi động mạch võng mạc bị co thắt gây thiếu máu cục bộ [3].
Tại đường tiêu hóa, thai phụ có thể đau vùng thượng vị (vùng bụng trên rốn), buồn nôn và nôn mửa [3]. Các triệu chứng này xuất phát từ việc mạch máu co thắt và lắng đọng chất giống fibrin làm cản trở dòng máu đến gan, gây rối loạn chức năng gan [3].
Biến chứng nặng nề hơn cả là phù phổi cấp (dịch ứ đọng trong phổi) gây khó thở tiến triển, khó thở kịch phát về đêm hoặc khó thở khi nằm [6, 8]. Nếu không được kiểm soát, tiền sản giật có thể tiến triển thành sản giật với các cơn co giật toàn thân xuất hiện trước, trong hoặc sau khi sinh [4].
Nghiên cứu khoa học nói gì về thời điểm phù và biến chứng?
Để làm rõ mức độ nguy hiểm của phù chân, một nghiên cứu công bố năm 1988 đã xem xét hồ sơ của 1.326 phụ nữ mang thai đơn, không mắc bệnh mạch máu hay bệnh thận từ trước [1]. Kết quả ghi nhận có 214 người (chiếm 16%) xuất hiện triệu chứng phù trong thai kỳ [1].
Trong nhóm bị phù này, 86% phụ nữ mang thai lần đầu (con so) và 97% phụ nữ mang thai từ lần thứ hai trở lên (con rạ) hoàn toàn không xuất hiện thêm dấu hiệu nào của tiền sản giật trong suốt thai kỳ cũng như sau sinh [1]. Trẻ sinh ra từ những bà mẹ mang thai lần đầu có triệu chứng phù thậm chí có cân nặng trung bình cao hơn đáng kể so với nhóm không phù [1].
Tuy nhiên, thời điểm xuất hiện phù lại mang ý nghĩa dự báo rất lớn [1]. Trong số 13 thai phụ bị phù sớm trước tuần thứ 28, có tới 5 người (38,5%) sau đó xuất hiện thêm các dấu hiệu tiền sản giật và 4 người chuyển thành tiền sản giật nặng [1]. Ngược lại, ở 201 thai phụ bị phù muộn sau tuần thứ 28, chỉ có 14 người (7%) có thêm dấu hiệu tiền sản giật và duy nhất 1 người tiến triển nặng [1].
Một nghiên cứu giải phẫu bệnh công bố năm 2018 tại Nga đã phân tích 17 ca tử vong mẹ do tiền sản giật trong giai đoạn 2012 đến nửa đầu năm 2017 [5]. Phân tích cho thấy bệnh có thể diễn tiến không điển hình: huyết áp không tăng quá cao, protein niệu chỉ ở mức nhẹ đến trung bình, nhưng hầu như luôn có triệu chứng phù đi kèm giảm tiểu cầu và rối loạn men gan [5]. Kiểm tra mô học ở các ca tử vong này ghi nhận gần một nửa số ca có xuất huyết não, tổn thương thận dạng thận sốc và gan phì đại nhiễm mỡ kèm xuất huyết [5].
Về diễn tiến sau sinh, một báo cáo ca lâm sàng năm 2021 ghi nhận một phụ nữ 34 tuổi khỏe mạnh, sinh thường không biến chứng nhưng nhập viện cấp cứu sau sinh 4 ngày vì khó thở tiến triển trong 3 ngày [6]. Bệnh nhân có sưng phù hai chân, đau đầu, khó thở khi nằm, huyết áp lên tới 176/88 mmHg nhưng nhịp tim lại chậm bất thường (60-64 nhịp/phút) và được chẩn đoán tiền sản giật sau sinh kèm phù phổi cấp [6]. Một báo cáo khác năm 2010 cũng mô tả trường hợp tiền sản giật trước sinh đã khỏi sau khi lấy thai, nhưng sau đó lại tái phát các dấu hiệu cổ điển trong giai đoạn hậu sản và phải điều trị bằng thuốc magnesium [7].
Hiểu lầm thường gặp về phù thai kỳ
Hiểu lầm phổ biến đầu tiên là cho rằng cứ phù chân khi mang thai là mắc tiền sản giật. Thực tế từ dữ liệu trên 1.326 thai phụ cho thấy bản thân triệu chứng phù đơn độc không làm xấu đi kết cục của mẹ và bé, với đại đa số trường hợp không tiến triển thành bệnh lý huyết áp [1].
Hiểu lầm thứ hai là nghĩ rằng huyết áp phải tăng thật cao thì phù mới nguy hiểm. Nghiên cứu năm 2018 chỉ ra rằng bộ ba triệu chứng kinh điển (tăng huyết áp, protein niệu, phù) không phải lúc nào cũng xuất hiện đầy đủ cùng lúc [5]. Những thể tiền sản giật không điển hình vẫn gây nguy hiểm tính mạng dù huyết áp không tăng vọt, nhưng lại biểu hiện qua phù kèm biến đổi xét nghiệm máu như giảm tiểu cầu và tăng men gan [5].
Hiểu lầm thứ ba là tin rằng sinh con xong sẽ chấm dứt hoàn toàn nguy cơ tiền sản giật [7]. Dù việc sinh em bé thường được xem là biện pháp điều trị dứt điểm, tiền sản giật và cả các cơn co giật của sản giật vẫn có thể khởi phát hoặc tái phát sau khi sinh [4, 5, 6].
Ai nên thận trọng đặc biệt?
Nhóm đầu tiên cần cảnh giác cao độ là phụ nữ xuất hiện phù sớm trước tuần thứ 28 của thai kỳ, do tỷ lệ tiến triển thành tiền sản giật ở nhóm này lên tới 38,5% [1]. Phụ nữ mang thai lần đầu bị phù cũng cần lưu ý hơn so với người mang thai lần hai trở đi [1].
Nhóm thứ hai là những người có sẵn bệnh lý nền trước khi mang thai hoặc trước tuần thứ 20, bao gồm tăng huyết áp mạn tính và bệnh thận từ trước [3]. Các rối loạn này có mối liên hệ nhân quả chặt chẽ và rất dễ tiến triển thành tiền sản giật khi bước vào nửa sau thai kỳ [3].
Nhóm thứ ba là phụ nữ béo phì hoặc béo phì bệnh lý [3, 8]. Béo phì làm tăng tích nước, tăng huyết áp và gây khó khăn lớn cho việc kiểm soát gây mê nếu biến chứng tiền sản giật nặng kèm phù phổi cấp đòi hỏi phải mổ lấy thai cấp cứu [3, 8]. Ngoài ra, người từng bị tiền sản giật ở lần mang thai trước cũng có nguy cơ tái phát cao hơn ở các lần mang thai tiếp theo [7].
Theo dõi và ứng phó thực tế cho mẹ bầu
Thay vì lo lắng quá mức khi thấy chân sưng nhẹ vào cuối ngày ở ba tháng cuối, thai phụ nên tập trung vào việc khám thai định kỳ để đo huyết áp và xét nghiệm nước tiểu kiểm tra protein [1, 2]. Đây là hai chỉ số khách quan giúp phân biệt nhanh tình trạng giữ nước thông thường với bệnh lý [1, 2].
Nếu phù xuất hiện trước tuần thứ 28, thai phụ cần thông báo ngay cho bác sĩ sản khoa để lập kế hoạch theo dõi huyết áp và đạm niệu sát sao hơn [1]. Khi có bệnh nền tăng huyết áp, bệnh thận hoặc đang dùng bất kỳ loại thuốc nào, việc điều chỉnh lối sống hay sử dụng thuốc lợi tiểu, thuốc hạ áp bắt buộc phải có chỉ định và sự giám sát chặt chẽ của bác sĩ chuyên khoa [1, 3].
Trong sinh hoạt hàng ngày, mẹ bầu có thể duy trì chế độ ăn uống cân bằng, uống đủ nước và kê cao chân khi nghỉ ngơi để giảm cảm giác nặng mỏi sinh lý. Tuy nhiên, cần đến bệnh viện ngay lập tức nếu sưng phù đi kèm bất kỳ dấu hiệu nào sau đây: đau đầu dữ dội, nhìn mờ, đau tức vùng bụng trên rốn, buồn nôn, lượng nước tiểu giảm hoặc khó thở [1, 6]. Việc theo dõi các dấu hiệu này cần được duy trì cả trong những ngày đầu sau khi sinh [4, 6].
Tóm lại, phù chân sau tuần 28 phần lớn là hiện tượng sinh lý lành tính của thai kỳ [1]. Chìa khóa bảo vệ sức khỏe mẹ và bé là kiểm soát tốt huyết áp, xét nghiệm nước tiểu định kỳ và nhận diện sớm các triệu chứng cảnh báo từ não, mắt, gan, phổi để can thiệp y tế kịp thời [1, 5].




