Làm việc ca đêm, thức khuya và đảo lộn nhịp sinh hoạt đã trở thành thói quen phổ biến của hàng triệu lao động hiện đại. Nhiều người thường chỉ lo ngại thiếu ngủ hay mệt mỏi thể chất, mà ít ai ngờ rằng hệ tiêu hóa, đặc biệt là túi mật, cũng phải chịu áp lực nặng nề. Thắc mắc về việc tại sao nhóm người làm ca đêm lại có tỷ lệ hình thành sỏi túi mật cao hơn bình thường đang ngày càng được quan tâm.

Câu trả lời cốt lõi nằm ở sự rối loạn vận động túi mật do thói quen ăn uống sai nhịp sinh học, dẫn đến hiện tượng ứ đọng dịch mật kéo dài [1]. Khi các bữa ăn bị đảo lộn thất thường, tín hiệu thần kinh và hormone điều khiển sự co bóp tống xuất mật bị phá vỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho các tinh thể lắng đọng và kết tụ thành sỏi [1], [2].

Cơ chế co bóp túi mật và nguy cơ ứ đọng dịch mật

Túi mật hoạt động như một cơ quan đáp ứng nhạy bén với các hormone trong cơ thể [2]. Vận động của túi mật được điều hòa bởi một mạng lưới tương tác phức tạp giữa các yếu tố thần kinh và thể dịch [1], [3]. Ở trạng thái khỏe mạnh, khi thức ăn đi vào đường tiêu hóa, các hormone nội tiết đường ruột như cholecystokinin (CCK) sẽ được tiết ra nhằm kích thích cơ trơn túi mật co bóp tống mật xuống ruột non để tiêu hóa chất béo [4], [5].

Tuy nhiên, hầu hết các bệnh lý túi mật nghiêm trọng đều có mối liên quan trực tiếp đến tình trạng ứ trệ dịch mật [1]. Rối loạn vận động túi mật không chỉ là hệ quả mà bằng chứng thực nghiệm cho thấy nó còn xuất hiện trước cả khi sỏi túi mật hình thành [1]. Khi nhịp điệu sinh hoạt và ăn uống bị xáo trộn, túi mật giảm co bóp, dịch mật bị giữ lại quá lâu trở nên cô đặc, tạo thành bùn mật và khởi phát quá trình tạo sỏi tại chỗ [1], [2].

Ảnh hưởng của ăn uống sai nhịp đến hoạt động tiêu hóa

Ở người làm ca đêm, chu kỳ ăn uống thường bị đảo ngược hoặc gián đoạn nghiêm trọng với các khoảng thời gian nhịn đói kéo dài vào ban ngày xen kẽ các bữa ăn đêm thất thường. Túi mật có thể bị thay đổi sinh lý bình thường trước nhiều điều kiện cơ thể và chế độ dinh dưỡng khác nhau [2], [4]. Bằng chứng khoa học chỉ ra rằng các rối loạn đặc trưng bởi biến đổi vận động túi mật sẽ khiến cá nhân dễ hình thành sỏi [2].

Việc ăn uống thất thường và hạn chế ăn uống không đúng nhịp đã được ghi nhận gây ảnh hưởng rõ rệt tới vận động của túi mật [4]. Các rối loạn chức năng này dẫn tới suy giảm khả năng nhạy cảm của thành túi mật với hormone cholecystokinin hoặc làm giảm tiết các hormone đường ruột cần thiết [4]. Hậu quả là dịch mật không được làm rỗng đúng lúc, tạo cơ hội cho cholesterol và các thành phần khác kết tủa [2], [5].

Các nghiên cứu nói gì về vận động túi mật và sỏi mật

Nghiên cứu sinh lý học công bố năm 1993 nhấn mạnh rằng sự suy giảm vận động túi mật đã được chứng minh trong bệnh lý sỏi mật qua cả nghiên cứu thực nghiệm lẫn lâm sàng [1]. Quan trọng hơn, rối loạn này xảy ra trước khi phát hiện sỏi [1]. Tình trạng ứ trệ dịch mật là nhân tố nền tảng dẫn đến các bệnh lý túi mật nghiêm trọng [1].

Một nghiên cứu khác năm 1991 về chức năng túi mật cho thấy không có một dạng rối loạn vận động đơn nhất nào ở tất cả bệnh nhân sỏi mật, do cơ chế tạo sỏi rất đa dạng [2]. Dù vậy, các tình trạng làm thay đổi khả năng vận động của túi mật đều tạo tiền đề cho sự hình thành sỏi, đồng thời các nghiên cứu về bùn túi mật cho thấy các quá trình cục bộ bên trong túi mật đóng vai trò then chốt [2].

Đến năm 1995, một tổng quan y khoa xác nhận phẫu thuật cắt túi mật là một trong những thủ thuật phổ biến nhất ở phương Tây, với hơn 500.000 ca mỗi năm chỉ riêng tại Mỹ [3]. Nghiên cứu chỉ ra rằng hiểu rõ cơ chế vận động phức tạp của túi mật qua các yếu tố thần kinh và hormone là mấu chốt để giải thích quá trình bệnh sinh của sỏi mật [3].

Năm 2003, các nhà khoa học đánh giá vận động túi mật trên nhiều nhóm chuyển hóa khác nhau [4]. Kết quả cho thấy bệnh nhân đái tháo đường có nguy cơ mắc sỏi túi mật cholesterol tăng gấp 2 đến 3 lần, chủ yếu liên quan đến béo phì và tăng triglycerid máu [4]. Đồng thời, sự suy giảm vận động túi mật ở nhóm này xuất phát từ bệnh thần kinh tự chủ tiềm ẩn, giảm thụ thể hoặc giảm tính nhạy cảm của túi mật với cholecystokinin [4].

Khả năng tống xuất mật suy giảm ở người bệnh

Để đo lường sự suy giảm vận động, một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên mù đôi năm 1995 đã so sánh 20 người tình nguyện khỏe mạnh với 30 bệnh nhân mắc sỏi mật [6]. Kết quả cho thấy nhóm người khỏe mạnh có phân suất tống xuất túi mật đạt 73,9 ± 0,9%, cao hơn đáng kể so với mức 60,4 ± 1,0% ở bệnh nhân mắc sỏi túi mật (P < 0,05) [6]. Bệnh nhân sỏi mật được chia thành 3 nhóm điều trị: nhóm 1 dùng giả dược, nhóm 2 dùng aspirin 350 mg/ngày và nhóm 3 dùng aspirin 1400 mg/ngày trong 2 tuần [6]. Sau điều trị, phân suất tống xuất túi mật được cải thiện ở nhóm dùng 350 mg aspirin (từ 62,0 ± 1,7% lên 74,0 ± 1,7%, P < 0,01) và nhóm dùng 1400 mg aspirin (từ 61,2 ± 1,3% lên 69,8 ± 3,8%, P < 0,01), trong khi nhóm giả dược không đổi (59,0 ± 1,9% so với 60,4 ± 2,6%) [6].

Nghiên cứu năm 1989 theo dõi 21 bệnh nhân sỏi túi mật có triệu chứng trước và sau khi tán sỏi bằng sóng xung kích ngoài cơ thể (12 người có dùng kèm thuốc tan sỏi axit mật và 9 người không dùng kèm) [7]. Trước can thiệp, nhóm bệnh nhân có dung tích cặn túi mật sau co bóp rất cao (51 ± 10% ở nhóm có thuốc và 46 ± 7% ở nhóm không thuốc) cùng thời gian bán tống xuất kéo dài (40 ± 5 phút và 30 ± 4 phút) [7]. Ngược lại, người khỏe mạnh có dung tích cặn chỉ 15 ± 4% và thời gian bán tống xuất nhanh 18 ± 2 phút [7]. Đáng chú ý, vận động túi mật không thay đổi sau tán sỏi 1 ngày lẫn 1 năm, chứng minh khiếm khuyết vận động túi mật không tự biến mất chỉ bằng việc loại bỏ sỏi [7].

Năm 2000, nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trên các dải cơ túi mật người đã làm sáng tỏ vai trò của prostaglandin [5]. Ở túi mật chứa sỏi, thứ tự hiệu lực co cơ bị thay đổi và chất PGI2 gây giãn cơ túi mật chứa sỏi (đặc biệt khi đã kích thích trước bằng CCK), trái ngược với tác dụng co cơ ở túi mật không sỏi [5]. Do túi mật chứa dịch mật bão hòa cholesterol tạo ra nhiều PGI2, hiện tượng giãn cơ này góp phần gây suy giảm vận động túi mật [5].

Lợi ích và giới hạn của các bằng chứng khoa học

Các nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng đã làm rõ cơ chế sinh học phân tử và huyết học: sự ứ trệ dịch mật và giảm phân suất tống xuất mật là điều kiện tiên quyết tạo sỏi [1], [6]. Nghiên cứu cũng xác nhận khiếm khuyết co bóp tồn tại dai dẳng kể cả khi sỏi đã được tán vỡ ra khỏi cơ thể [7].

Dù vậy, các nghiên cứu này cũng có giới hạn nhất định. Nhiều thử nghiệm lâm sàng được thực hiện trên cỡ mẫu tương đối nhỏ, dao động từ 20 đến 30 người [6] hoặc 21 bệnh nhân [7]. Hơn nữa, phản ứng của túi mật rất phức tạp và không có một rối loạn co bóp đồng nhất nào đại diện cho toàn bộ bệnh nhân sỏi mật [2]. Các yếu tố nội tiết, chuyển hóa và thần kinh tự chủ đan xen phức tạp đòi hỏi thêm các thử nghiệm quy mô lớn trên người làm việc ca đêm để định lượng chính xác tác động độc lập của việc lệch nhịp thức ngủ [3], [4].

Những hiểu lầm thường gặp về bệnh sỏi túi mật

Nhiều người lầm tưởng rằng sỏi túi mật chỉ xuất hiện do ăn quá nhiều mỡ hoặc dư thừa cholesterol trong bữa ăn. Thực tế, ngay cả khi kiểm soát lượng chất béo, việc nhịn ăn kéo dài hoặc ăn sai nhịp khiến túi mật không nhận được kích thích co bóp định kỳ, dẫn đến ứ đọng dịch mật và hình thành sỏi [1], [4].

Một hiểu lầm khác là loại bỏ viên sỏi ra khỏi cơ thể (như tán sỏi) sẽ phục hồi hoàn toàn chức năng túi mật. Bằng chứng khoa học năm 1989 đã chứng minh rằng khiếm khuyết giảm co bóp của túi mật không hề bị triệt tiêu sau khi loại bỏ sỏi, thậm chí kéo dài suốt 1 năm sau điều trị [7].

Ai nên thận trọng với tình trạng ứ trệ dịch mật?

Nhóm người làm việc ca kíp đêm, thay đổi giờ giấc sinh hoạt liên tục và có thói quen bỏ bữa là đối tượng có nguy cơ cao gặp rối loạn co bóp túi mật [2], [4].

Những người mắc bệnh béo phì, đái tháo đường cần đặc biệt cảnh giác vì nguy cơ sỏi túi mật tăng gấp 2 đến 3 lần, đồng thời nhóm này thường đi kèm suy giảm độ nhạy hoặc giảm số lượng thụ thể CCK trên thành túi mật [4]. Phụ nữ mang thai hoặc người mắc các bệnh đường ruột cũng thuộc nhóm dễ bị biến đổi sinh lý túi mật [2].

Lời khuyên áp dụng thực tế để bảo vệ túi mật

Để hạn chế tình trạng ứ đọng dịch mật khi phải làm việc ca đêm, việc thiết lập nhịp ăn uống có kế hoạch là vô cùng quan trọng. Tránh để túi mật ở trạng thái "nghỉ" quá lâu bằng cách chia nhỏ các bữa ăn đều đặn trong ca làm việc, giúp kích thích giải phóng hormone đường ruột để làm rỗng túi mật định kỳ [4].

Bên cạnh dinh dưỡng, hoạt động thể chất là giải pháp hỗ trợ giá trị. Một tổng quan hệ thống năm 2015 trên cơ sở dữ liệu Ovid/MEDLINE từ 1996 đến 2014 cho thấy vận động cấp tính có thể thúc đẩy làm rỗng túi mật bằng cách kích thích giải phóng cholecystokinin [8]. Các nghiên cứu cắt ngang và bệnh chứng quy mô lớn nhất chỉ ra rằng hoạt động thể chất thường xuyên giúp giảm nguy cơ mắc bệnh sỏi túi mật và ung thư túi mật [8].

Sỏi túi mật không chỉ đơn thuần là vấn đề lắng đọng hóa học mà xuất phát sâu xa từ sự rối loạn vận động và ứ đọng dịch mật do lối sống lệch nhịp [1], [2]. Người làm ca đêm cần chủ động duy trì giờ ăn cố định, kết hợp vận động thể chất thường xuyên để kích thích túi mật tống xuất mật hiệu quả [8]. Khi xuất hiện các triệu chứng đau tức hạ sườn phải hoặc khó tiêu kéo dài, người bệnh cần thăm khám bác sĩ chuyên khoa để được chẩn đoán và tư vấn phù hợp.