Cơn đau đầu, nhức mỏi cơ bắp hay viêm khớp tái phát thường khiến nhiều người tìm ngay đến các loại thuốc giảm đau quen thuộc không kê đơn. Trong đó, ibuprofen là hoạt chất vô cùng phổ biến tại tủ thuốc của nhiều gia đình. Tuy nhiên, với những người đang điều trị tăng huyết áp hàng ngày, việc tùy tiện uống chung thuốc giảm đau này lại tiềm ẩn nhiều nguy cơ sức khỏe khôn lường.

Câu trả lời ngắn gọn là việc phối hợp ibuprofen cùng thuốc hạ áp có thể trực tiếp làm triệt tiêu tác dụng hạ áp, đẩy chỉ số huyết áp lên cao mất kiểm soát và gây áp lực tiêu cực lên chức năng thận [1], [2]. Thói quen tưởng như vô hại này khiến phác đồ kiểm soát bệnh tim mạch trở nên kém hiệu quả, thậm chí biến một người đang kiểm soát tốt chỉ số huyết áp thành bệnh nhân kháng trị thuốc [3], [4].

Cơ chế tác động: Vì sao thuốc giảm đau cản trở hạ huyết áp?

Nhóm thuốc chống viêm không steroid (NSAID), bao gồm ibuprofen, diclofenac và naproxen, hoạt động theo cơ chế ức chế thuận nghịch các enzyme cyclooxygenase (COX) [1]. Việc ức chế enzym này giúp làm giảm quá trình sinh tổng hợp các chất gây viêm và đau, nhờ đó đem lại hiệu quả hạ sốt, giảm đau và chống viêm nhanh chóng [1]. Tuy nhiên, enzym COX cũng chịu trách nhiệm sản xuất các prostaglandin có lợi tại thận [2], [5].

Tại thận, các prostaglandin đảm nhiệm vai trò giãn mạch và duy trì lưu lượng máu nuôi dưỡng tổ chức lọc [2], [5]. Khi ibuprofen ức chế tổng hợp chất này, mạch máu thận co thắt, dẫn đến hiện tượng giữ muối và giữ nước trong cơ thể [2]. Tình trạng này vừa làm giảm lưu lượng máu đến tiểu động mạch vào thận, vừa làm suy giảm mức lọc cầu thận [5].

Bên cạnh hiện tượng tích tụ thể tích dịch tuần hoàn, tình trạng co mạch toàn thể do thiếu hụt prostaglandin giãn mạch cũng trực tiếp làm gia tăng sức cản mạch máu ngoại vi [3], [2]. Kết hợp cả hai yếu tố co mạch và giữ muối nước, chỉ số huyết áp của bệnh nhân sẽ bị kéo bật tăng trở lại [3], [2]. Đây chính là nguyên nhân cốt lõi khiến các thuốc hạ áp bị vô hiệu hóa hoặc giảm tác dụng đáng kể khi dùng chung [3], [4].

Nghiên cứu chỉ ra những con số biết nói

Mối tương tác bất lợi giữa NSAID và các phác đồ điều trị tim mạch đã được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu lâm sàng thực nghiệm lẫn theo dõi đoàn hệ.

Một thử nghiệm lâm sàng tiến hành năm 2011 tại phòng khám gia đình ở Croatia trên 110 bệnh nhân tăng huyết áp từ 56 đến 85 tuổi (gồm 50 người thuộc nhóm đối chứng và 60 người dùng thêm NSAID trị thoái hóa khớp) đã theo dõi biến thiên huyết áp trong các chu kỳ 3 tháng bắt chéo [3]. Kết quả ghi nhận ở phân nhóm uống kết hợp thuốc ức chế men chuyển lisinopril và thuốc lợi tiểu hydrochlorothiazide, việc dùng ibuprofen hoặc piroxicam đã làm tăng huyết áp động mạch trung bình từ 8,9% đến 9,5% [3]. Nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân prohypertensive (gây tăng áp) phần lớn do tác động co mạch và một phần nhỏ do tăng thể tích tuần hoàn [3].

Trước đó, một thử nghiệm có đối chứng công bố năm 2008 trên 88 bệnh nhân tăng huyết áp trên 55 tuổi (39 người đối chứng, 49 người dùng thêm thuốc khớp) cũng khảo sát cụ thể tương tác này [4]. Với huyết áp ban đầu trung bình khoảng 149,3/88,6 mmHg, phân nhóm dùng lisinopril phối hợp hydrochlorothiazide khi uống ibuprofen hoặc piroxicam đã bị tăng huyết áp tâm thu từ 7,7% đến 9,9% [4]. Khi chuyển sang dùng paracetamol (acetaminophen), huyết áp tâm thu hạ 6,9% đến 9,4%, trở về mức chỉ cao hơn ban đầu 0,3% đến 0,9% [4]. Đáng chú ý, khi tái sử dụng lại NSAID lần hai, huyết áp tâm thu lại tăng vọt 7,0% đến 7,7% [4].

Một nghiên cứu đoàn hệ tại cộng đồng người cao tuổi trích dẫn năm 2011 cũng chỉ ra rằng những người dùng phối hợp thuốc hạ áp và NSAID có huyết áp tâm thu cao hơn khoảng 5 mmHg so với người không dùng, đồng thời đối diện nguy cơ cao có huyết áp tâm thu vượt ngưỡng 140 mmHg [6].

Tại Mỹ, một nghiên cứu đoàn hệ hồi quy công bố năm 2012 theo dõi 1.340 người dùng NSAID bắt cặp với 1.340 người dùng paracetamol [7]. Kết quả cho thấy nhóm dùng NSAID tăng trung bình 2 mmHg huyết áp tâm thu so với nhóm paracetamol [7]. Riêng ibuprofen làm tăng huyết áp tâm thu thêm 3 mmHg khi so với naproxen và tăng 5 mmHg khi so với celecoxib [7]. Đối với phân nhóm dùng thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc chẹn kênh canxi, mức tăng là 3 mmHg, và tăng tới 6 mmHg ở nhóm bệnh nhân dùng thuốc chẹn beta [7].

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng ghi nhận sự khác biệt ở một số nhóm nhỏ. Điển hình là nghiên cứu năm 2001 tại Zimbabwe thực hiện trên 15 phụ nữ tăng huyết áp và viêm khớp dùng lisinopril kết hợp hydrochlorothiazide [8]. Khi dùng luân phiên ibuprofen, sulindac và diclofenac mỗi loại 1 tháng kèm 2 tuần nghỉ dùng paracetamol, mức huyết áp trung bình không biến đổi đáng kể (108 mmHg trước và sau dùng thuốc) và mức bài tiết natri niệu 24 giờ cũng không đổi [8]. Điều này cho thấy đáp ứng sinh học có thể có sự khác biệt tùy cơ địa, kích thước mẫu nghiên cứu hoặc phác đồ cụ thể [8].

Nhóm thuốc huyết áp nào chịu ảnh hưởng nặng nề nhất?

Mức độ xung đột dược lý không giống nhau giữa tất cả các nhóm thuốc hạ áp. Các đánh giá y khoa cho thấy thuốc lợi tiểu và thuốc ức chế men chuyển (ACE inhibitors) là hai nhóm dễ bị tương tác và dễ mất kiểm soát huyết áp nhất khi dùng chung với NSAID [2], [5]. Thuốc ức chế men chuyển dựa vào sự điều hòa mạch máu thận, khi gặp ibuprofen sẽ bị chặn đứng đường tổng hợp prostaglandin tại thận [5]. Sự kết hợp giữa thuốc ức chế men chuyển và NSAID ở người cao tuổi thậm chí được xác định là nguyên nhân hàng đầu gây ra suy thận cấp do thuốc [5].

Bên cạnh đó, việc cơ thể bị mất natri do thuốc lợi tiểu kết hợp với tác động từ NSAID cũng có thể thúc đẩy rối loạn chức năng thận trầm trọng hơn [5]. Ngược lại, nhóm thuốc chẹn kênh canxi (như amlodipine) được chứng minh là có khả năng chống chịu tốt hơn trước tác động của NSAID [4], [2]. Thử nghiệm lâm sàng năm 2008 cho thấy ở phân nhóm bệnh nhân dùng amlodipine, ibuprofen chỉ làm biến động huyết áp từ 1,1% đến 1,6%, mức dao động không có ý nghĩa thống kê [4].

Nguy cơ suy tim và các biến chứng tim mạch đi kèm

Không chỉ đơn thuần làm sai lệch các chỉ số đo huyết áp, việc tự ý dùng ibuprofen và các NSAID kéo dài còn kéo theo hàng loạt hệ lụy nguy hiểm. Một nghiên cứu đoàn hệ ở người cao tuổi chỉ ra rằng các thuốc NSAID không chọn lọc như naproxen, diclofenac và ibuprofen làm gia tăng đáng kể nguy cơ nhập viện vì suy tim sung huyết so với người không dùng [6].

Đối với những bệnh nhân từng có tiền sử sống sót sau đợt nhập viện đầu tiên vì suy tim, việc tiếp tục sử dụng bất kỳ loại NSAID nào (kể cả celecoxib hay ibuprofen) đều làm tăng nguy cơ tử vong một cách rõ rệt [6]. Tình trạng quá tải thể tích tuần hoàn và sự co bóp căng thẳng của cơ tim dưới tác động giữ muối nước chính là ngòi nổ kích hoạt các biến cố tim mạch chết người này [3], [6], [2].

Hơn nữa, nếu bệnh nhân đang dùng aspirin liều thấp để dự phòng biến cố tim mạch, ibuprofen có thể cạnh tranh vị trí gắn kết và làm giảm tác dụng chống kết tập tiểu cầu của aspirin [6], [5]. Hiệp hội Lão khoa Hoa Kỳ đã khuyến cáo tránh dùng đồng thời aspirin và ibuprofen dựa trên cảnh báo từ Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) từ năm 2006 [6].

Những hiểu lầm thường gặp khi dùng thuốc giảm đau

Nhiều người bệnh vẫn giữ quan niệm rằng các loại thuốc giảm đau mua tự do ngoài nhà thuốc (OTC) đều hoàn toàn lành tính và có thể dùng tùy ý. Tuy nhiên, tính an toàn của thuốc chỉ đạt được khi dùng đúng liều lượng chỉ định và trong thời gian ngắn nhất [1]. Các phản ứng có hại của thuốc (ADR) và tương tác bất lợi tăng theo tổng liều lượng và thời gian tích lũy tiếp xúc với thuốc [1]. Dù là dạng thuốc không kê đơn hay thuốc tiêm truyền tĩnh mạch, ibuprofen vẫn có khả năng ức chế prostaglandin và làm suy giảm chức năng thanh thải của thận [1], [5].

Một ngộ nhận khác là hễ đau nhức là phải uống kháng viêm liều cao. Trên thực tế, các thử nghiệm cho thấy việc thay thế ibuprofen bằng paracetamol (acetaminophen) giúp đưa huyết áp trở về gần mức nền ban đầu mà vẫn đáp ứng nhu cầu giảm đau cơ bản, do paracetamol hầu như không gây tương tác cản trở tác dụng hạ áp [3], [4]. Bệnh nhân không nên tự ý đổi sang các NSAID khác vì các hoạt chất như indomethacin, piroxicam hay naproxen cũng gây tăng áp lực động mạch trung bình tương tự hoặc mạnh hơn [2].

Ai cần đặc biệt thận trọng?

Những đối tượng sau đây cần tuyệt đối cẩn trọng, không tự ý dùng ibuprofen khi chưa tham vấn nhân viên y tế:

  • Người cao tuổi đang điều trị tăng huyết áp bằng thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc lợi tiểu [2], [5].
  • Người có tiền sử suy tim hoặc từng nhập viện vì các vấn đề liên quan đến chức năng tim [6].
  • Bệnh nhân đang phối hợp nhiều thuốc điều trị bệnh mạn tính, chẳng hạn như dùng đồng thời thuốc chống đông (warfarin, heparin) hoặc thuốc chứa lithium, do nguy cơ xuất huyết tiêu hóa và ngộ độc thận tăng cao [5].
  • Người có bệnh lý suy giảm chức năng thận từ trước hoặc người đang điều trị bằng methotrexate [5].

Hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn trong thực tế

Để tránh các biến chứng nguy hiểm do tương tác thuốc, người bệnh cần thiết lập thói quen dùng thuốc có kiểm soát:

  • Luôn thông báo cho bác sĩ điều trị hoặc dược sĩ về tất cả các loại thuốc mình đang dùng, bao gồm cả thuốc kê đơn hạ huyết áp và thuốc giảm đau mua ngoài [1], [2].
  • Khi gặp các cơn đau nhức thông thường, paracetamol nên là lựa chọn ưu tiên hàng đầu để thay thế NSAID vì tính trung tính, ít ảnh hưởng lên chỉ số huyết áp [3], [4].
  • Trong trường hợp bắt buộc phải sử dụng ibuprofen, chỉ dùng ở liều thấp nhất có hiệu quả và trong thời gian ngắn nhất có thể [1].
  • Thường xuyên đo huyết áp tại nhà bằng máy đo đạt chuẩn để kịp thời phát hiện các đợt tăng vọt bất thường của chỉ số huyết áp [4].
  • Không bao giờ tự ý tăng liều thuốc huyết áp khi thấy huyết áp tăng sau khi uống thuốc giảm đau, mà phải liên hệ với bác sĩ chuyên khoa để được điều chỉnh phác đồ an toàn [1], [2].

Kiểm soát huyết áp là một quá trình điều trị liên tục và lâu dài nhằm ngăn ngừa đột quỵ cũng như suy tim. Đừng để một viên thuốc giảm đau dùng sai cách làm phá hỏng toàn bộ nỗ lực bảo vệ sức khỏe tim mạch của bạn. Hãy luôn tham khảo ý kiến chuyên môn từ bác sĩ hoặc dược sĩ trước khi kết hợp bất kỳ loại thuốc nào vào phác đồ hàng ngày.