Nước dừa từ lâu đã là thức uống giải khát tự nhiên được nhiều người Việt Nam ưa chuộng nhờ vị ngọt thanh và cảm giác bù nước nhanh chóng. Tuy nhiên, với những người đang điều trị tăng huyết áp hoặc suy tim bằng các nhóm thuốc có tác dụng giữ kali, thói quen uống nước dừa tùy tiện có thể dẫn đến những biến cố tim mạch khôn lường.

Uống nước dừa khi đang sử dụng thuốc hạ huyết áp giữ kali là không an toàn, đặc biệt là khi uống lượng lớn hoặc uống thường xuyên. Sự kết hợp giữa cơ chế hạn chế bài tiết kali của thuốc và lượng kali dồi dào từ nước dừa có thể đẩy nồng độ kali trong máu vượt quá ngưỡng cho phép, gây độc trực tiếp lên cơ tim và hệ thống dẫn truyền điện học của tim.

Cơ chế giữ kali của thuốc hạ áp và gánh nặng điện giải lên cơ tim

Spironolactone là một loại thuốc đối kháng thụ thể aldosterone, thường được chỉ định trong điều trị tăng huyết áp kháng trị, suy tim và một số tình trạng bệnh lý khác nhờ tác dụng lợi tiểu nhưng giữ lại ion kali trong cơ thể [1] [2] [3]. Bình thường, hormone aldosterone thúc đẩy thận bài tiết kali qua nước tiểu để giữ cân bằng nội môi. Khi spironolactone ức chế thụ thể này, thận sẽ giảm đào thải kali, khiến lượng khoáng chất này tích tụ dần trong tuần hoàn [2] [3]. Tình trạng tích lũy này càng rõ rệt hơn khi spironolactone được phối hợp cùng các thuốc ức chế men chuyển (ACEI) hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin (ARB) [4] [5].

Bình thường, cơ thể cần một lượng kali nhất định để duy trì chức năng thần kinh và co bóp cơ trơn, cơ vân. Đối với một người không mắc bệnh thận mạn tính, lượng kali khuyến nghị tiêu thụ hàng ngày qua chế độ ăn là 4,7 g [6]. Tuy nhiên, 8 ounce nước dừa (tương đương khoảng 236 ml) đã chứa tới 600 mg kali [6]. Khi người bệnh uống một lượng lớn nước dừa trong thời gian ngắn, lượng kali này được hấp thu ồ ạt vào máu.

Cơ tim là cơ quan đặc biệt nhạy cảm với sự thay đổi của nồng độ điện giải trong máu. Nồng độ kali ngoại bào tăng cao làm thay đổi điện thế nghỉ của màng tế bào cơ tim, dẫn đến rối loạn khử cực và tái cực. Hậu quả là xuất hiện các rối loạn nhịp tim từ ngoại tâm thu, chậm nhịp tim cho đến rung thất nguy hiểm hoặc ngừng tim đột ngột [6] [1]. Không những thế, tình trạng tăng kali máu quá mức còn gây tổn thương thần kinh - cơ cấp tính [6].

Nguy cơ liệt cơ và loạn nhịp tim tử vong từ nước dừa: Báo cáo ca bệnh

Mối nguy hiểm của việc dung nạp quá mức nước dừa khi đang dùng thuốc hạ áp giữ kali đã được ghi nhận rõ ràng trong y văn thế giới. Một báo cáo công bố năm 2018 mô tả trường hợp lâm sàng về tình trạng liệt mềm tăng dần cấp tính khởi phát thứ phát sau đợt tăng kali máu nặng do nhiều yếu tố phối hợp, trong đó nguyên nhân kích hoạt trực tiếp là nước dừa [6].

Bệnh nhân trong báo cáo này có tiền sử dùng dài ngày thuốc chẹn thụ thể angiotensin (ARB) kết hợp với spironolactone [6]. Trước khi nhập viện cấp cứu, người này đã uống một lượng lớn nước dừa King (Cocos nucifera "king" - một giống dừa bản địa tại Sri Lanka) trong thời gian ngắn [6]. Sau đó, qua thăm khám cấp tính, bệnh nhân còn được phát hiện mắc bệnh thận mạn tính do biến chứng của đái tháo đường [6].

Việc nạp quá nhiều kali từ nước dừa trên nền chức năng thận suy giảm và đang dùng đồng thời hai nhóm thuốc giữ kali đã đẩy nồng độ kali máu lên mức cực kỳ nguy hiểm [6]. Bệnh nhân xuất hiện triệu chứng yếu cơ tiến triển tăng dần từ hai chi dưới lan lên hai chi trên chỉ trong vài giờ, trên lâm sàng rất giống với hội chứng Guillain-Barre [6]. Bên cạnh đó, tình trạng tăng kali máu nặng này còn gây ra loạn nhịp tim cận kề tử vong [6].

Bệnh nhân đã được cấp cứu ưu tiên xử trí loạn nhịp và ổn định nồng độ kali máu [6]. Sau ba ngày, khi nồng độ kali máu được điều chỉnh về mức an toàn, tình trạng yếu liệt chi đã hồi phục hoàn toàn, kết quả điện cơ đồ sau đó cho kết quả bình thường và ghi nhận tổn thương thần kinh cơ có thể đảo ngược nhanh chóng sau khi kiểm soát được kali máu [6]. Ca bệnh này là lời cảnh báo đắt giá về việc nước dừa có thể trở thành nguyên nhân gây rối loạn nhịp tim tử vong do tăng kali máu nặng [6].

Tỷ lệ tăng kali máu khi dùng thuốc: Các nghiên cứu lâm sàng nói gì?

Tăng kali máu không phải là biến cố hiếm gặp khi người bệnh sử dụng các phác đồ điều trị huyết áp và tim mạch có thuốc giữ kali. Một nghiên cứu mô tả hồi cứu công bố năm 2013 được thực hiện trên 534 bệnh nhân trưởng thành điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Siriraj (trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2009) nhằm xác định tỷ lệ và yếu tố nguy cơ tăng kali máu khi dùng phối hợp spironolactone cùng thuốc ức chế men chuyển (ACEI) hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin (ARB) [4]. Nghiên cứu định định nghĩa tăng kali máu là nồng độ kali huyết thanh trên 5,0 mmol/L [4]. Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân gặp biến cố tăng kali máu lên tới 11,2% (tương đương 60 bệnh nhân) [4].

Các phân tích thống kê trong nghiên cứu này chỉ ra các yếu tố làm tăng nguy cơ rõ rệt gồm: bệnh thận mạn tính làm tăng nguy cơ với tỷ số chênh OR là 2,47 (khoảng tin cậy 95% CI: 1,07 - 5,70); nồng độ kali huyết thanh ban đầu trên 4,0 mmol/L làm tăng nguy cơ với OR là 2,65 (95% CI: 1,44 - 4,88); và liều dùng spironolactone trên 25 mg/ngày làm tăng nguy cơ với OR là 2,42 (95% CI: 1,23 - 4,74) [4].

Ở nhóm bệnh nhân cao tuổi, nguy cơ này còn rõ rệt hơn. Một nghiên cứu công bố năm 2012 theo dõi 566 bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên mắc suy tim tham gia thử nghiệm điều trị chuẩn so với điều trị tích cực có định hướng nồng độ peptide lợi niệu týp B (TIME-CHF) trong thời gian 18 tháng [7]. Kết quả ghi nhận có 76 bệnh nhân (chiếm 13,4%) xuất hiện tăng kali máu từ 5,5 mmol/L trở lên và 28 bệnh nhân (chiếm 4,9%) bị tăng kali máu mức độ nặng từ 6,0 mmol/L trở lên [7].

Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố dự báo độc lập độc lập gồm: nồng độ kali huyết thanh ban đầu cao hơn (OR 2,92 trên mỗi 1 mmol/L), nồng độ creatinine ban đầu cao hơn (OR 1,11 trên mỗi 10 micromol/L), mắc kèm bệnh gút (OR 2,56), phân độ suy tim theo NYHA độ IV so với độ II (OR 3,08), liều dùng ban đầu của spironolactone cao hơn (OR 1,20 trên mỗi mức tăng 12,5 mg/ngày) [7]. Ngoài ra, việc tăng liều spironolactone cũng làm tăng mạnh nguy cơ: tăng liều 12,5 mg có OR 1,45; tăng liều 25 mg có OR 2,52; và tăng liều trên 25 mg có OR lên tới 3,24 [7].

Mối liên hệ giữa spironolactone, nồng độ kali và nguy cơ tử vong

Tác động của spironolactone lên nồng độ kali máu và tiên lượng sống còn đã được đánh giá qua nhiều thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn trên thế giới. Trong phân tích từ thử nghiệm TOPCAT công bố năm 2018 trên bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu bảo tồn (HF-PEF) tại khu vực châu Mỹ, việc dùng spironolactone làm tăng đáng kể nguy cơ tăng kali máu với tỷ số nguy cơ HR là 3,21 (95% CI: 2,46 - 4,20; P < 0,001), dù nó làm giảm nguy cơ hạ kali máu (HR 0,43; 95% CI: 0,34 - 0,55; P < 0,001) [5].

Nghiên cứu TOPCAT cũng chỉ ra rằng việc kết hợp spironolactone với thuốc ACEI hoặc ARB làm tăng thêm nguy cơ tăng kali máu [5]. Các yếu tố liên quan đến biến cố tăng kali máu bao gồm chỉ số mức lọc cầu thận ước tính thấp hơn, nồng độ kali nền cao hơn, bệnh đái tháo đường và hemoglobin thấp [5]. Đáng chú ý, phân tích đa biến theo mô hình hồi quy Cox chỉ ra rằng cả tình trạng hạ kali máu (dưới 3,5 mmol/L) và tăng kali máu (từ 5,5 mmol/L trở lên) đều liên quan độc lập đến sự gia tăng nguy cơ tử vong do tim mạch cũng như tử vong do mọi nguyên nhân [5].

Trước đó, một phân tích công bố năm 2014 từ thử nghiệm RALES trên 1.663 bệnh nhân suy tim nặng (độ III hoặc IV theo NYHA, phân suất tống máu thất trái dưới 35%) được phân ngẫu nhiên dùng spironolactone 25 mg hoặc giả dược [8]. Sau 1 tháng, nồng độ kali máu trung bình ở nhóm dùng spironolactone đã tăng đáng kể so với nhóm dùng giả dược (4,54 +- 0,49 mmol/L so với 4,28 +- 0,50 mmol/L; P < 0,001) và duy trì ở mức cao hơn trong suốt thử nghiệm [8]. Tình trạng tăng kali máu tại tuần thứ 4 có liên quan đến việc gia tăng nguy cơ tử vong ở cả hai nhóm nghiên cứu, tuy nhiên lợi ích điều trị của spironolactone vẫn được duy trì miễn là nồng độ kali không vượt quá ngưỡng 5,5 mmol/L [8].

Ở một khía cạnh khác, các nghiên cứu trên nhóm người trẻ tuổi không mắc bệnh nền lại cho thấy bức tranh khác. Một nghiên cứu biểu đồ hồi cứu công bố năm 2019 theo dõi 85 trẻ vị thành niên đa dạng giới (độ tuổi trung bình 16,6 +- 1,7 tuổi) được kê đơn spironolactone để chuyển giới trong 10 năm tại một bệnh viện nhi khoa [2]. Trong tổng số 269 lần đo nồng độ kali, chỉ có 6 lần đo ở 5 đối tượng ghi nhận kali máu trên 5,0 mmol/L (tỷ lệ 2,2%) [2]. Không có đối tượng nào biểu hiện triệu chứng của tăng kali máu và tất cả các lần kiểm tra lại đều trở về bình thường [2].

Một báo cáo khác cùng năm trên 88 trẻ vị thành niên chuyển giới (85 người nhận dạng nữ và 3 người phi nhị nguyên giới, tuổi trung bình 16,6 +- 1,7 tuổi) dùng spironolactone với liều trung bình 105 +- 43 mg/ngày (từ 25 đến 400 mg/ngày) [3]. Loại trừ hai mẫu máu bị vỡ hồng cầu, tỷ lệ tăng kali máu nhẹ chỉ là 6% [3]. Không ai có triệu chứng và các xét nghiệm đo lại đều cho kết quả bình thường [3]. Điều này chứng minh rằng nguy cơ tăng kali máu trầm trọng chủ yếu đe dọa những bệnh nhân có tổn thương chức năng cơ quan hoặc dùng thuốc điều trị tim mạch, huyết áp [1] [4] [7].

Những hiểu lầm thường gặp về việc uống nước dừa khi điều trị bệnh

Nhiều người bệnh lầm tưởng rằng nước dừa là nước tự nhiên, thanh nhiệt, giải độc nên uống càng nhiều càng tốt cho cơ thể. Đây là quan niệm sai lầm và có thể dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng. Nước dừa chứa hàm lượng khoáng chất rất cao, đặc biệt là ion kali [6]. Đối với người khỏe mạnh có chức năng bài tiết của thận hoàn chỉnh, lượng kali dư thừa sẽ nhanh chóng được lọc và thải trừ ra ngoài nước tiểu [6]. Nhưng ở người đang dùng thuốc hạ áp giữ kali như spironolactone, con đường đào thải này đã bị thuốc ngăn chặn một phần [1] [2] [3].

Một hiểu lầm khác là cho rằng khi cơ thể bị tăng kali máu thì sẽ luôn có triệu chứng báo trước như mệt mỏi, chuột rút hay choáng váng. Thực tế, biến cố tăng kali máu giai đoạn đầu thường diễn biến thầm lặng không hề có triệu chứng cảnh báo [2] [3]. Đến khi triệu chứng bộc lộ rõ rệt, bệnh nhân có thể đã rơi vào tình trạng liệt mềm cơ tiến triển nhanh hoặc loạn nhịp tim đe dọa tính mạng [6].

Nhiều người cũng nghĩ rằng chỉ khi uống thuốc dạng viên bổ sung kali thì mới sợ quá liều. Tuy nhiên, y văn đã chỉ rõ việc nạp thêm kali qua đường ăn uống thông thường, bao gồm chế độ ăn quá nhiều nước dừa hay dùng chất bổ sung kali, đều là tác nhân trực tiếp làm bùng phát cơn tăng kali máu cấp trên người đang dùng thuốc giữ kali [6] [1].

Những ai nên tuyệt đối thận trọng khi dùng nước dừa?

Dựa trên các bằng chứng y khoa hiện có, những nhóm đối tượng dưới đây cần đặc biệt cẩn trọng hoặc tránh hoàn toàn việc uống nước dừa tự do:

Người đang sử dụng thuốc lợi tiểu giữ kali spironolactone, đặc biệt là khi dùng liều lớn hơn 25 mg mỗi ngày [1] [4] [7]. Liều thuốc càng cao thì nguy cơ giữ kali càng tăng mạnh [7].

Người đang phối hợp thuốc spironolactone cùng các nhóm thuốc hạ huyết áp ức chế men chuyển (ACEI) hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin (ARB) [6] [4] [5]. Sự kết hợp này nhân đôi tác động ức chế bài tiết kali tại thận [4] [5].

Bệnh nhân suy tim nặng, người có phân độ suy tim NYHA tiến triển (đặc biệt là phân độ IV) hoặc suy tim mất bù [1] [7] [8]. Nhóm này có nguy cơ tử vong tim mạch tăng vọt nếu nồng độ kali huyết thanh vượt quá 5,5 mmol/L [5] [8].

Người có bệnh thận mạn tính hoặc tổn thương suy giảm chức năng thận, bao gồm cả biến chứng thận do đái tháo đường [6] [1] [4] [7] [5]. Khả năng lọc của cầu thận kém sẽ khiến lượng kali từ nước dừa tích tụ cực nhanh trong máu [6] [5].

Người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên), người mắc kèm bệnh gút, người có nồng độ kali huyết thanh ban đầu cao (trên 4,0 mmol/L) hoặc creatinine huyết thanh tăng cao [1] [4] [7] [5].

Bệnh nhân chuẩn bị bước vào các cuộc phẫu thuật lớn đang được điều trị bằng spironolactone cần được đo nồng độ kali máu ngay trước mổ để phát hiện sớm nguy cơ này [1].

Cách áp dụng thực tế và lời khuyên an toàn

Để đảm bảo an toàn tuyệt đối khi đang dùng các thuốc hạ huyết áp hoặc thuốc tim mạch có tính chất giữ kali, người bệnh nên tuân thủ các nguyên tắc sau:

Tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị: Người bệnh cần trao đổi rõ ràng với bác sĩ chuyên khoa tim mạch về chế độ dinh dưỡng hàng ngày. Không nên tự ý sử dụng nước dừa như một loại nước uống thay thế nước lọc thường quy [6].

Tránh uống dồn dập lượng lớn: Tuyệt đối không uống nhiều trái dừa cùng một lúc hoặc uống liên tục trong nhiều ngày. Với hàm lượng 600 mg kali chỉ trong 8 ounce nước dừa, việc nạp một lượng lớn sẽ tạo gánh nặng điện giải tức thì lên cơ tim [6].

Kiểm tra định kỳ nồng độ điện giải: Người bệnh cần thực hiện xét nghiệm sinh hóa máu định kỳ để theo dõi nồng độ kali và creatinine huyết thanh theo đúng lịch hẹn của nhân viên y tế [1] [7] [8]. Việc kiểm soát tốt nồng độ kali máu (không để vượt quá 5,5 mmol/L) là điều kiện then chốt để thuốc phát huy tối đa hiệu quả bảo vệ tim mạch mà không gây hại tính mạng [8].

Nhận biết dấu hiệu nguy hiểm: Nếu sau khi uống nước dừa hoặc ăn các thực phẩm giàu kali mà xuất hiện cảm giác hồi hộp, đánh trống ngực, nhịp tim chậm bất thường, cảm giác tê bì hoặc yếu liệt tay chân tiến triển, người bệnh cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được cấp cứu kịp thời [6].

Tóm lại, nước dừa là thức uống tự nhiên bổ dưỡng cho người có sức khỏe bình thường nhưng lại tiềm ẩn rủi ro rất lớn đối với người đang dùng thuốc hạ áp giữ kali kèm bệnh nền tim mạch, thận [6] [1]. Giữ thói quen ăn uống điều độ, tránh nạp kali quá mức và tuân thủ chặt chẽ chỉ định theo dõi của bác sĩ là biện pháp tốt nhất để bảo vệ trái tim khỏe mạnh.