Cơn đau lưng dưới ập đến sau một buổi làm việc cúi gập người hay một động tác mang vác nặng thường khiến nhiều người hoang mang. Phản xạ quen thuộc của không ít bệnh nhân là tìm đến ngay các trung tâm chẩn đoán hình ảnh để xin chụp cộng hưởng từ (MRI) vì nghĩ rằng chiếc máy hiện đại này sẽ "vạch mặt" chính xác nguồn gốc cơn đau.
Tuy nhiên, câu trả lời từ các bằng chứng y khoa hiện đại là: Không cần thiết chụp MRI ngay lập tức đối với các cơn đau lưng mới xuất hiện mà không đi kèm dấu hiệu nguy hiểm. Việc vội vã chụp phim không chỉ gây tốn kém tiền bạc mà còn đưa người bệnh vào ma trận lo âu và nguy cơ can thiệp y tế quá mức.
Vì sao đau lưng không đồng nghĩa với việc cần chụp phim ngay?
Hầu hết các cơn đau lưng cấp tính khởi phát lần đầu đều xuất phát từ tình trạng căng cơ, dây chằng hoặc thoái hóa cơ học lành tính và có xu hướng tự thoái lui sau vài tuần chăm sóc bảo tồn. Việc đưa người bệnh vào máy chụp cộng hưởng từ ngay từ những ngày đầu thường không giúp thay đổi phác đồ điều trị ban đầu mà lại dễ làm phức tạp hóa vấn đề.
Một nghiên cứu tổng quan công bố năm 2023 chỉ ra rằng chụp MRI cột sống thắt lưng ghi nhận tỷ lệ bất thường hình thái rất cao ở cả những người có triệu chứng đau lẫn những người hoàn toàn không hề có triệu chứng [1]. Thách thức lớn đối với y khoa hiện nay chính là việc phân biệt đâu là tổn thương thực sự gây ra cơn đau và đâu chỉ là những phát hiện tình cờ của quá trình lão hóa tự nhiên [1].
Nếu chỉ nhìn vào các lát cắt hình ảnh mà tách rời khỏi việc thăm khám lâm sàng tỉ mỉ, bác sĩ và người bệnh rất dễ rơi vào bẫy chẩn đoán sai lệch [1]. Khi nguyên nhân gây đau không được xác định chuẩn xác, người bệnh có thể phải gánh chịu những phương pháp điều trị không cần thiết, làm suy giảm chất lượng sống và lãng phí nguồn lực y tế [1].
Hình ảnh bất thường trên MRI: Người bình thường cũng có
Phương pháp chụp cộng hưởng từ có độ nhạy cực kỳ cao trong việc tái tạo chi tiết cấu trúc mô mềm, đĩa đệm và tủy sống. Nhưng chính độ nhạy vượt trội đi kèm độ đặc hiệu không cao lại khiến phương pháp này phát hiện vô số những biến đổi giải phẫu vốn không gây bệnh [2].
Nghiên cứu năm 2020 trên 190 bệnh nhân từ 18 tuổi trở xuống đã chứng minh các phát hiện tình cờ xuất hiện ngay từ lứa tuổi thanh thiếu niên [2]. Cụ thể, các nhà khoa học đã ghi nhận tỷ lệ phát hiện tình cờ ở cột sống cổ là 21,05%, cột sống ngực là 13,83% và cột sống thắt lưng lên tới 22,63% [2]. Những phát hiện phổ biến nhất ở thắt lưng của người trẻ gồm lồi đĩa đệm với 12 trường hợp, thoát vị nội xốp Schmorl với 5 trường hợp và tiêu gai sống với 4 trường hợp, dù nhiều người không hề có biểu hiện tương ứng [2].
Khi một tổn thương giải phẫu có thể tồn tại âm thầm ở người khỏe mạnh, việc quy chụp mọi hình ảnh lồi hay thoái hóa đĩa đệm là thủ phạm gây đau lưng cấp là một nhận định thiếu căn cứ khoa học vững chắc [1], [2]. Nếu người bệnh không hiểu rõ điều này, bản kết luận chụp phim dễ trở thành một bản án tinh thần đầy ám ảnh.
Bội thực "phát hiện tình cờ" ngoài cột sống
Một vấn đề lớn khác khi chỉ định chụp MRI cột sống thắt lưng đại trà là máy sẽ quét qua cả các cơ quan lân cận trong ổ bụng và khoang sau phúc mạc [3], [4]. Các nhà nghiên cứu ghi nhận chụp MRI cột sống thường xuyên phát hiện các bất thường ngoài cột sống, bao gồm các cấu trúc cơ quan khác nhau với mức độ khẩn cấp lâm sàng rất đa dạng [3].
Một nghiên cứu đánh giá 1.278 bệnh nhân ngoại trú trưởng thành công bố năm 2015 đã phát hiện có tới 253 tổn thương tình cờ ở 241 người bệnh, chiếm tỷ lệ 18,8% [5]. Trong số này, chỉ có 34 trường hợp (chiếm tỷ lệ nhỏ) là có ý nghĩa lâm sàng thực sự, như u tuyến thượng thận (0,86%), hạch to (0,55%), dày niêm mạc tử cung hoặc cổ tử cung (0,47%), khối u thận (0,15%), phình động mạch chủ (0,15%), thận ứ nước (0,15%) hay u bì buồng trứng (0,15%) [5]. Phần lớn các phát hiện còn lại hoàn toàn lành tính và không phải là nguyên nhân gây ra cơn đau thắt lưng [5].
Số liệu này tiếp tục được củng cố trong một nghiên cứu năm 2018 trên 379 bệnh nhân nghi ngờ có bất thường đĩa đệm thắt lưng tại Sudan [6]. Kết quả cho thấy có 23,7% số bệnh nhân ghi nhận các phát hiện tình cờ ngoài cột sống, bao gồm nang thận (10,3%), u xơ tử cung (2,6%), tử cung ngả sau (2,6%), nang Naboth (1,3%), nang buồng trứng (1,1%), phì đại tuyến tiền liệt (1,1%) và thận ứ nước (2,9%) [6]. Đa số bệnh nhân sau đó phải chịu thêm nhiều xét nghiệm theo dõi tốn kém nhưng không đem lại giá trị điều trị cho cơn đau lưng ban đầu [6].
Nghiên cứu trên 2.067 báo cáo MRI cột sống thắt lưng mở rộng trường quan sát năm 2015 cũng chỉ ra có 33,2% trường hợp mang tổn thương vùng bụng chậu ngoài ý muốn [7]. Dù vậy, phần lớn các tổn thương này được chuyên gia chẩn đoán hình ảnh nhận định là không quan trọng về mặt lâm sàng và không cần can thiệp thêm [7]. Một nghiên cứu năm 2017 trên 1.837 bệnh nhân cũng ghi nhận tỷ lệ phát hiện tình cờ lên đến 26,7% khi tiến hành chụp tầm soát [8].
Thậm chí, y văn năm 2018 đã báo cáo hai trường hợp bệnh nhân tình cờ phát hiện khối u lớn trong màng cứng tủy sống thắt lưng sau tai nạn giao thông nhẹ, hoàn toàn không có triệu chứng thần kinh hay đau lưng từ trước đó [4]. Những khối u này tình cờ được tìm thấy trên phim nhưng không hề liên quan đến lý do chụp ban đầu [4].
Nguy cơ điều trị quá mức và bẫy tâm lý người bệnh
Tác hại lớn nhất của việc chụp MRI quá sớm khi vừa đau lưng là hội chứng "bệnh nhân hóa" người bình thường. Khi cầm trên tay kết quả chụp với hàng loạt thuật ngữ phức tạp như phồng đĩa đệm, thoái hóa khớp cung mấu hay gai xương, người bệnh rất dễ nảy sinh tâm lý sợ hãi, lo lắng mình bị tàn phế.
Chính nỗi sợ này thúc đẩy người bệnh hạn chế vận động một cách cực đoan, nằm bất động trên giường, vô tình làm co cứng cơ và khiến cơn đau lưng trở nên dai dẳng hơn. Nghiêm trọng hơn, việc cố gắng điều trị một "vết sẹo tự nhiên" trên phim chụp có thể dẫn đến việc lạm dụng thuốc giảm đau chống viêm liều cao kéo dài, tiêm ngoài màng cứng hoặc phẫu thuật không cần thiết [1].
Các can thiệp xâm lấn cột sống luôn đi kèm nguy cơ tai biến, nhiễm trùng và chi phí tài chính khổng lồ. Nếu nguồn phát sinh cơn đau thực sự chỉ nằm ở nhóm cơ thắt lưng bị căng giãn cơ học, việc mổ can thiệp vào một đĩa đệm tình cờ bị lồi sẽ không thể giúp bệnh nhân hết đau, thậm chí còn để lại di chứng xơ dính sau mổ [1].
Khi nào chụp MRI mới thực sự cần thiết?
Việc trì hoãn chụp MRI không áp dụng cho tất cả mọi trường hợp. Bác sĩ lâm sàng sẽ chỉ định chụp cộng hưởng từ khẩn cấp hoặc ưu tiên khi cơn đau lưng đi kèm các dấu hiệu cảnh báo đỏ (red flags) cho thấy nguy cơ tổn thương thần kinh nghiêm trọng hoặc bệnh lý toàn thân.
Người bệnh cần được đưa đến cơ sở y tế để chụp MRI ngay nếu cơn đau lưng xuất hiện kèm theo rối loạn tiểu tiện hoặc đại tiện (bí tiểu, tiểu không tự chủ, mất cảm giác vùng hội âm); yếu liệt chi dưới tiến triển nhanh khiến bệnh nhân đi lại khó khăn, sụp cổ chân; đau lưng kèm theo sốt cao, ớn lạnh hoặc sút cân không rõ nguyên nhân; bệnh nhân có tiền sử mắc các bệnh ung thư trước đó; hoặc đau xuất hiện sau chấn thương ngã cao, va đập mạnh [4], [8].
Đối với những cơn đau lưng đơn thuần, không kèm dấu hiệu cảnh báo đỏ, khoảng thời gian theo dõi và điều trị bảo tồn thông thường kéo dài từ 4 đến 6 tuần. Nếu sau khoảng thời gian này, các biện pháp điều chỉnh vận động và dùng thuốc thông thường không mang lại cải thiện, việc chỉ định chụp MRI lúc đó mới phát huy giá trị chẩn đoán thực sự [1].
Hướng xử trí khoa học khi vừa xuất hiện cơn đau lưng
Thay vì hoảng loạn đòi chụp MRI ngay ngày đầu tiên bị đau, người bệnh nên bình tĩnh tiếp cận vấn đề theo các bước khoa học đã được khuyến cáo.
Trước hết, cần duy trì vận động nhẹ nhàng trong giới hạn chịu đựng, tránh nằm bất động tuyệt đối trên giường quá 48 giờ. Các động tác đi bộ chậm, xoay trở nhẹ nhàng giúp tăng cường tuần hoàn máu nuôi dưỡng khối cơ lưng và thúc đẩy quá trình hồi phục. Người bệnh có thể chườm ấm hoặc chườm mát lên vùng cơ bị căng tức trong 15-20 phút mỗi lần để giảm co thắt cơ.
Bên cạnh đó, việc điều chỉnh tư thế ngồi làm việc, tránh nâng vật nặng sai tư thế và duy trì cân nặng hợp lý đóng vai trò quyết định trong việc ngăn ngừa đau tái phát. Nếu cơn đau gây khó chịu nhiều, việc thăm khám với bác sĩ chuyên khoa cột sống hoặc cơ xương khớp sẽ giúp bạn nhận được đơn thuốc giảm đau thông thường an toàn và những bài tập vật lý trị liệu phục hồi chức năng phù hợp.
Chụp cộng hưởng từ là một thành tựu vĩ đại của y học hiện đại, nhưng chiếc máy này chỉ mang lại lợi ích tốt nhất khi được sử dụng đúng người, đúng thời điểm và được phiên giải bởi bác sĩ lâm sàng có chuyên môn [1], [2]. Hãy để hình ảnh y khoa phục vụ việc điều trị con người bạn, thay vì để những dòng kết luận phim chụp biến bạn thành một bệnh nhân bất đắc dĩ.




