Đo huyết áp tại nhà thấy chỉ số về mức đẹp suốt nhiều ngày, không ít người bệnh lập tức cất vỉ thuốc vào tủ vì nghĩ bệnh đã khỏi. Thói quen uống thuốc lúc nhớ lúc quên, hoặc chỉ uống khi thấy đau đầu, chóng mặt diễn ra rất phổ biến ở người tăng huyết áp.
Tuyệt đối không tự ý ngưng thuốc khi thấy huyết áp về bình thường. Huyết áp ổn định là nhờ tác dụng kiểm soát của thuốc đang duy trì trong cơ thể. Tự ý bỏ thuốc đột ngột gây hiện tượng tăng huyết áp dội ngược [1], làm thất bại phác đồ điều trị [2], dẫn đến tăng huyết áp kháng trị [2], làm tăng nguy cơ biến cố tim mạch [3] và đột quỵ [4].
Vì sao bỏ thuốc đột ngột gây tăng huyết áp dội ngược?
Tăng huyết áp là bệnh lý mạn tính không có triệu chứng rõ ràng ở giai đoạn ổn định [5]. Người bệnh thường không cảm nhận hoặc không thấy ngay hậu quả tức thì của việc bỏ liều thuốc [5]. Chính sự "im lặng" này tạo ra cảm giác chủ quan rằng cơ thể đã hoàn toàn khỏe mạnh.
Khi dừng thuốc hạ áp đột ngột, cơ thể mất đi chốt chặn kiểm soát mạch máu. Y văn ghi nhận hiện tượng "tăng huyết áp dội ngược" (rebound hypertension) xảy ra sau khi ngưng đột ngột liệu pháp điều trị hạ áp bằng thuốc như methyldopa (Aldomet) [1]. Thay vì giữ ở mức bình thường, huyết áp vọt lên cao, đẩy hệ mạch máu và tim vào tình trạng quá tải nguy hiểm [3].
Không tuân thủ điều trị là nguyên nhân phổ biến gây thất bại điều trị hạ áp và dẫn đến tình trạng kháng thuốc trong thực hành lâm sàng [2]. Việc bỏ thuốc trong vòng một tháng trước khi đi khám có liên quan trực tiếp đến tình trạng huyết áp tăng cao trở lại khi đo tại cơ sở y tế [6]. Tuân thủ dùng thuốc là thành tố then chốt để kiểm soát mức huyết áp [3], quyết định sự thành công của liệu pháp hạ áp và phòng ngừa tiên phát đột quỵ [4].
Nghiên cứu khoa học nói gì về việc tự ý bỏ thuốc?
Dữ liệu từ nhiều quốc gia cho thấy tỷ lệ bỏ thuốc hạ áp rất đáng báo động và để lại hậu quả nặng nề.
Một nghiên cứu công bố năm 2021 tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) theo dõi 5.308 bệnh nhân mới bắt đầu điều trị tăng huyết áp trong 6 tháng [2]. Kết quả chỉ có 42% bệnh nhân tuân thủ toàn bộ thuốc hạ áp được kê [2]. Cứ hai bệnh nhân mới điều trị thì có một người không tuân thủ thuốc [2]. Trong nhóm dùng từ 3 loại thuốc hạ áp trở lên, tỷ lệ tuân thủ kém là 34% và cứ 5 người thì có 1 người có thể bị tăng huyết áp kháng trị [2]. Tính chung trên toàn bộ mẫu, 1,6% bệnh nhân phát triển tăng huyết áp kháng trị chỉ trong vòng 6 tháng theo dõi [2]. Phân tích gộp trích dẫn trong nghiên cứu này cũng chỉ ra tỷ lệ không tuân thủ thuốc hạ áp ở quần thể người châu Á là 48% (khoảng tin cậy 95%: 41-54%) và ở Trung Đông là 41% (khoảng tin cậy 95%: 30-52%) [2]. Giới hạn của các ước tính trước đó tại Trung Đông là dựa trên các nghiên cứu cắt ngang và dùng bảng câu hỏi tự báo cáo [2].
Một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu công bố năm 2015 tại Thụy Điển thực hiện trên mẫu ngẫu nhiên 5.025 người trưởng thành bị tăng huyết áp [6]. Nghiên cứu đo lường mức độ tuân thủ qua dữ liệu lấy thuốc với ngưỡng tỷ lệ ngày có thuốc (PDC) từ 80% trở lên [6]. Kết quả cho thấy việc không tuân thủ bất kỳ thuốc hạ áp nào trong một tháng trước khi thăm khám y tế có liên quan chặt chẽ với tình trạng huyết áp tăng cao [6]. Nhóm người dưới 65 tuổi có nguy cơ không tuân thủ cao hơn (tỷ số chênh OR = 2,75), tương tự ở nhóm thu nhập thấp nhất (OR = 2,05) [6]. Việc không tuân thủ toàn bộ phác đồ cao hơn ở người mới dùng thuốc (OR = 2,04), người dùng dịch vụ y tế chuyên khoa (OR = 1,63), người phải uống 2 loại thuốc (OR = 1,85) và người uống từ 3 loại thuốc trở lên (OR = 5,22) [6].
Về mặt tâm lý, nghiên cứu đoàn hệ công bố năm 2008 tại Phần Lan đã phân tích 1.021 người lao động bị tăng huyết áp, độ tuổi từ 26-63, làm việc tại 8 thị trấn và 12 bệnh viện [5]. Đánh giá qua hồ sơ cấp phát thuốc tại nhà thuốc cho thấy 60% bệnh nhân tuân thủ hoàn toàn, 36% tuân thủ một phần và 4% hoàn toàn không tuân thủ [5]. Những người có "ý thức mạch lạc" (sense of coherence - bao gồm sự hiểu biết về bệnh, khả năng quản lý và động lực điều trị) ở mức cao có tỷ lệ bỏ thuốc hoàn toàn thấp hơn rõ rệt (OR = 0,55) [5]. Mối liên quan này độc lập với loại thuốc hạ áp đang dùng hay tiền sử bệnh đồng mắc [5].
Một nghiên cứu cắt ngang tại bệnh viện công bố năm 2018 ở tây nam Ethiopia thực hiện từ ngày 4/3/2015 đến 3/4/2015 trên 280 bệnh nhân trưởng thành (tuổi trung bình 55,0 ± 12,7; 53,2% là nam giới) [3]. Đánh giá bằng thang điểm MMAS-8 (điểm từ 6 trở lên là tuân thủ) ghi nhận 61,8% người bệnh tuân thủ thuốc [3]. Các yếu tố làm giảm sự tuân thủ bao gồm: có bệnh đồng mắc (AOR = 0,083), uống rượu (AOR = 0,011), nhận thuốc miễn phí (AOR = 0,020) và phải dùng phối hợp nhiều thuốc hạ áp (AOR = 0,32) [3].
Ngược lại, một nghiên cứu khác công bố năm 2017 tại các bệnh viện tuyến cuối ở tây bắc Ethiopia cho thấy tỷ lệ tuân thủ thuốc tốt đạt 67,2% [7]. Trong nghiên cứu này, 63,1% người bệnh có kiến thức tốt, 70,2% có thái độ tích cực với việc điều trị và 65,5% có mối quan hệ tốt với nhân viên y tế [7]. Phân tích đa biến chỉ ra người không có bệnh đồng mắc tuân thủ cao gấp 4 lần (AOR = 4,36); người đã dùng thuốc từ 3 năm trở lên tuân thủ cao gấp 2 lần (AOR = 1,89) so với người dùng dưới 3 năm; người nhận thuốc miễn phí hoặc chi phí thấp tuân thủ cao gấp 2 lần (AOR = 2,06) so với nhóm chi phí cao; và người có thái độ tích cực tuân thủ cao gấp 10 lần (AOR = 9,88) [7].
Tại Trung Quốc, một nghiên cứu cắt ngang công bố năm 2015 áp dụng Mô hình Niềm tin Sức khỏe (HBM) đã giải thích được 50,5% sự biến thiên trong tuân thủ thuốc hạ áp với độ chính xác dự đoán đạt 86,2% sau khi hiệu chỉnh các yếu tố kiểm soát [8]. Nhận thức rõ nguy cơ mắc bệnh (p = 0,017), có các yếu tố nhắc nhở hành động (p = 0,034), sự tự tin vào bản thân (p = 0,002) và ít rào cản nhận thức (p < 0,001) giúp người bệnh uống thuốc đều đặn hơn [8]. Tuổi cao (p = 0,037), thời gian mắc bệnh dài (p = 0,003), thời gian dùng thuốc lâu (p = 0,001) và việc dùng kèm thuốc chống kết tập tiểu cầu (p < 0,001) cũng gắn liền với việc tuân thủ thuốc tốt hơn [8].
Đặc biệt, nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu dựa trên quần thể công bố năm 2017 khẳng định: việc tuân thủ thuốc hạ áp giúp giảm nguy cơ đột quỵ trong suốt thời gian mắc bệnh [4]. Hiệu quả phòng ngừa đột quỵ của việc uống thuốc đều đặn càng lớn khi thời gian mắc tăng huyết áp càng ngắn (tức mới phát hiện và điều trị sớm) [4].
Lợi ích của việc uống thuốc đều và giới hạn của bằng chứng
Duy trì thuốc hạ áp đúng chỉ định giúp kiểm soát huyết áp ổn định [3], ngăn ngừa sự phát triển của các biến chứng tăng huyết áp và giảm nguy cơ biến cố tim mạch [3]. Quan trọng nhất, tuân thủ thuốc là yếu tố quyết định để phòng ngừa đột quỵ ngay từ đầu, đặc biệt hiệu quả khi người bệnh tuân thủ ngay từ giai đoạn mới mắc bệnh [4]. Ngoài ra, uống thuốc đều đặn giúp ngăn chặn tình trạng bệnh chuyển sang giai đoạn tăng huyết áp kháng trị rất khó kiểm soát [2].
Tuy nhiên, các bằng chứng khoa học hiện tại cũng có những giới hạn nhất định. Nhiều nghiên cứu đánh giá mức độ tuân thủ dựa trên thiết kế cắt ngang và bảng câu hỏi tự báo cáo từ người bệnh [2], hoặc phỏng vấn kết hợp xem hồ sơ bệnh án trong thời gian ngắn 1 tháng [3], nên có thể bị ảnh hưởng bởi trí nhớ của người trả lời. Các nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu dựa vào dữ liệu lấy thuốc tại nhà thuốc [5] hoặc tỷ lệ ngày có thuốc [6] phản ánh việc mua thuốc nhưng không giám sát trực tiếp hành vi nuốt viên thuốc mỗi ngày. Ngoài ra, một số yếu tố như việc cấp thuốc miễn phí cho kết quả trái ngược nhau giữa hai nghiên cứu ở các vùng khác nhau tại Ethiopia [3], [7], cho thấy bối cảnh kinh tế xã hội từng địa phương ảnh hưởng mạnh đến hành vi dùng thuốc.
Những hiểu lầm thường gặp khiến người bệnh bỏ thuốc
Hiểu lầm lớn nhất là "không có triệu chứng nghĩa là không cần uống thuốc". Tăng huyết áp vốn là căn bệnh không có triệu chứng điển hình [5]. Khi bỏ một vài liều, cơ thể chưa biểu hiện hậu quả ngay lập tức [5], khiến người bệnh lầm tưởng mình đã khỏi bệnh. Thực tế, mạch máu vẫn đang chịu áp lực ngầm và có thể dẫn đến huyết áp tăng vọt [6] hoặc tăng huyết áp dội ngược [1].
Hiểu lầm thứ hai là sợ uống thuốc lâu ngày hại người nên tự ý giảm liều khiToa thuốc có nhiều loại. Thực tế, phần lớn bệnh nhân tăng huyết áp cần liệu pháp đa thuốc (kết hợp nhiều thuốc) để kiểm soát huyết áp [6]. Các nghiên cứu đều chỉ ra việc phải uống kết hợp nhiều loại thuốc làm tăng nguy cơ tự ý bỏ thuốc [2], [3], [6]. Tuy nhiên, tự ý bỏ bớt thuốc trong phác đồ phối hợp sẽ làm mất khả năng kiểm soát huyết áp [6] và đẩy tỷ lệ kháng thuốc lên cao [2].
Ai nên thận trọng đặc biệt với nguy cơ bỏ thuốc?
Dựa trên dữ liệu nghiên cứu, các nhóm đối tượng sau có nguy cơ không tuân thủ điều trị cao hơn và cần được gia đình, bác sĩ theo sát:
- Người mới bắt đầu điều trị tăng huyết áp (dưới 3 năm) [7], [6], vì cứ 2 người mới điều trị thì có 1 người bỏ thuốc [2].
- Người trẻ và trung niên dưới 65 tuổi [6], hoặc người có chỉ số khối cơ thể (BMI) cao [2].
- Người phải dùng phác đồ phối hợp từ 2 đến 3 loại thuốc hạ áp trở lên [2], [3], [6].
- Người có thói quen uống rượu bia [3].
- Người có thu nhập thấp hoặc gặp rào cản về chi phí y tế [7], [6].
- Người có tâm lý bi quan, thiếu hiểu biết về bệnh, thiếu động lực điều trị hoặc có thái độ không tích cực với thuốc tây [5], [7].
- Người đang dùng các thuốc có ghi nhận gây tăng huyết áp dội ngược khi ngưng đột ngột như methyldopa [1].
Lưu ý: Tác động của tuổi tác và bệnh đồng mắc có sự khác biệt giữa các quần thể nghiên cứu. Có nghiên cứu ghi nhận tuổi cao và tăng BMI làm giảm tuân thủ [2], nhưng nghiên cứu khác lại thấy người lớn tuổi hoặc người có bệnh đái tháo đường, người dùng kèm thuốc chống kết tập tiểu cầu tuân thủ tốt hơn [2], [8]. Tương tự, có nơi ghi nhận bệnh đồng mắc làm giảm tuân thủ [3], nơi khác lại thấy không có bệnh đồng mắc giúp tuân thủ tốt hơn [7]. Dù thuộc nhóm nào, người có bệnh nền đang dùng nhiều thuốc tuyệt đối không tự ý thay đổi liều lượng.
Cách áp dụng thực tế để kiểm soát huyết áp an toàn
Để duy trì huyết áp ổn định lâu dài và tránh hiện tượng dội ngược, người bệnh cần thực hiện các nguyên tắc sau:
Về thời điểm và liều lượng: Uống thuốc đều đặn mỗi ngày theo đúng đơn kê của bác sĩ, đảm bảo tỷ lệ ngày có thuốc duy trì liên tục [6]. Ngay cả khi đo huyết áp tại nhà thấy chỉ số bình thường, vẫn phải uống liều tiếp theo đúng giờ. Không tự ý ngưng thuốc đột ngột trong bất kỳ hoàn cảnh nào để tránh tăng huyết áp dội ngược [1].
Về thiết lập thói quen: Tạo ra "các yếu tố nhắc nhở hành động" (cues to action) [8] trong đời sống hàng ngày. Bạn có thể đặt chuông báo thức trên điện thoại, để hộp thuốc cạnh bàn ăn sáng hoặc bình nước, dùng hộp chia thuốc theo ngày trong tuần. Việc nâng cao sự tự tin trong quản lý bệnh và giảm bớt các rào cản tâm lý giúp duy trì thói quen uống thuốc chính xác hơn [8].
Về lối sống và thăm khám: Bỏ rượu bia vì uống rượu làm giảm mạnh khả năng tuân thủ điều trị [3]. Kết hợp chế độ ăn giảm mặn, uống đủ nước, vận động vừa sức và kiểm soát cân nặng để hỗ trợ thuốc phát huy tác dụng. Tái khám định kỳ đúng hẹn để lấy thuốc nối tiếp, không để gián đoạn thuốc trong tháng trước ngày khám [6]. Xây dựng mối quan hệ trao đổi cởi mở với bác sĩ điều trị [7]: nếu gặp tác dụng phụ, thấy đơn thuốc quá nhiều viên khó nhớ [2], [6] hoặc chi phí thuốc vượt khả năng chi trả [7], hãy nói thẳng với bác sĩ để được đổi sang viên phối hợp hoặc thuốc có chi phí phù hợp hơn.
Huyết áp về mức bình thường là minh chứng cho thấy thuốc đang bảo vệ bạn hiệu quả, không phải là dấu hiệu bệnh đã biến mất. Kiên trì uống thuốc đúng chỉ định, kết hợp lối sống lành mạnh và trao đổi thường xuyên với bác sĩ là chìa khóa an toàn nhất để bảo vệ tim mạch và phòng ngừa đột quỵ [4], [3], [7].




