Đêm trằn trọc nhìn trần nhà, tâm trí quay cuồng với hàng tá suy nghĩ chưa giải quyết là cảnh tượng quen thuộc của nhiều người trưởng thành. Sáng hôm sau, cơ thể rã rời càng khiến cảm giác bồn chồn, lo lắng tăng vọt. Nhiều người tự hỏi: lo âu làm ta mất ngủ, hay chính những đêm trắng đã sinh ra chứng rối loạn lo âu?
Câu trả lời từ các dữ liệu y khoa hiện đại là cả hai. Không có một thứ tự cố định nào cho mọi trường hợp; thay vào đó, lo âu và mất ngủ vận hành theo mối tương tác hai chiều phức tạp, xoắn xuýt vào nhau theo thời gian [1] [2]. Tình trạng này có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng kia và ngược lại, tạo thành vòng xoắn bệnh lý nếu không được can thiệp đúng cách [1] [3].
Gánh nặng kép trong đời sống hiện đại
Rối loạn mất ngủ mạn tính ước tính ảnh hưởng đến khoảng 10% dân số, kéo theo sự suy giảm chất lượng sống và gia tăng nguy cơ mắc các rối loạn tâm thần, đặc biệt là rối loạn cảm xúc và hành vi tự sát [4]. Trong thực hành lâm sàng, việc một bệnh nhân cùng lúc gặp cả chứng mất ngủ và lo âu diễn ra rất phổ biến [2].
Không dừng lại ở hai vấn đề này, bức tranh bệnh lý thường phức tạp hơn khi có sự tham gia của trầm cảm [5]. Thống kê cho thấy có từ 27% đến 77% số người được chẩn đoán chính mắc rối loạn lo âu sẽ đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm ở một thời điểm nào đó trong đời [5]. Hầu hết các rối loạn lo âu khởi phát từ thời thơ ấu, sau đó tỷ lệ mắc đồng thời cả lo âu và trầm cảm tăng mạnh vào giai đoạn cuối tuổi vị thành niên và đầu tuổi trưởng thành [5]. Đối với những bệnh nhân đang chịu đựng lo âu và trầm cảm, mất ngủ là một vấn đề dai dẳng và lan tỏa [4].
Cơ chế não bộ đằng sau vòng xoắn bệnh lý
Vì sao giấc ngủ và cảm xúc lại tác động qua lại chặt chẽ đến vậy? Một khung lý thuyết xuyên chẩn đoán về thần kinh sinh học và tâm lý xã hội chỉ ra rằng có nhiều con đường mà sự thiếu ngủ gây ra căng thẳng tâm lý, đồng thời căng thẳng tâm lý lại làm suy giảm chất lượng cũng như thời lượng giấc ngủ [6].
Ở góc độ cấu trúc não bộ, hạch hạnh nhân (amygdala) — trung tâm xử lý cảm xúc và nỗi sợ — đóng vai trò then chốt [4]. Một nghiên cứu công bố năm 2019 đã sử dụng kỹ thuật chụp cộng hưởng từ (MRI) cấu trúc và phân tích hình dạng bề mặt để khảo sát hạch hạnh nhân ở 65 bệnh nhân mất ngủ mạn tính chưa từng dùng thuốc, so sánh với 55 người khỏe mạnh tương đồng về tuổi, giới tính và trình độ học vấn [4].
Kết quả không ghi nhận sự thay đổi toàn bộ thể tích hạch hạnh nhân, nhưng phát hiện hiện tượng teo cục bộ tại các nhân chuyên biệt ở người mất ngủ mạn tính [4]. Cụ thể, vùng hạch hạnh nhân bên trái bị teo ở nhân bề mặt và nhân đáy bên, trong khi bên phải bị teo ở nhân đáy bên [4]. Đáng chú ý, mức độ nghiêm trọng của chứng mất ngủ liên quan đến nhân trung tâm - trong của hạch hạnh nhân phải, còn các triệu chứng lo âu lại gắn liền với nhân đáy bên [4]. Phát hiện về sự teo cục bộ và phân tách vùng phụ trách này giúp làm sáng tỏ cơ chế thần kinh nằm dưới mối quan hệ hai chiều giữa mất ngủ và lo âu [4].
Nghiên cứu thực tế nói gì về chiều hướng tác động?
Để xác định cái nào xuất hiện trước, các nhà khoa học đã thực hiện nhiều nghiên cứu theo dõi dọc theo thời gian trên quy mô lớn.
Một nghiên cứu tiến cứu công bố năm 2008 trên quần thể dân cư chung đã chọn ngẫu nhiên 3.000 người, thu thập khảo sát ban đầu ở 1.812 người và theo dõi sau 1 năm với 1.498 người [1]. Phân tích tại cùng một thời điểm cho thấy lo âu, trầm cảm và mất ngủ có mối tương quan chặt chẽ với nhau (hệ số tương quan từ 0,31 đến 0,54) [1]. Khi xét theo thời gian 1 năm, những người có lo âu ở thời điểm ban đầu tăng gấp 4,27 lần nguy cơ (OR = 4,27; giải thích 8% phương sai) xuất hiện ca mất ngủ mới sau 1 năm; trầm cảm ban đầu làm tăng 2,28 lần nguy cơ này (OR = 2,28; 2% phương sai) [1]. Ngược lại, những người bị mất ngủ ngay từ đầu cũng có nguy cơ khởi phát đợt lo âu cao mới tăng gấp 2,30 lần (OR = 2,30; 2% phương sai) và đợt trầm cảm cao mới tăng gấp 3,51 lần (OR = 3,51; 4% phương sai) sau 1 năm [1].
Một tổng quan hệ thống công bố năm 2013 đã phân tích 9 nghiên cứu (gồm 8 nghiên cứu theo dõi dọc và 1 nghiên cứu hồi cứu, tìm kiếm dữ liệu đến tháng 12/2011) nhằm đánh giá tính chất hai chiều này [3]. Tổng hợp dữ liệu khẳng định chứng mất ngủ và chất lượng giấc ngủ có quan hệ hai chiều với lo âu và trầm cảm [3]. Tuy nhiên, ở trẻ em, các vấn đề giấc ngủ dự báo mức độ trầm cảm và hỗn hợp trầm cảm/lo âu cao hơn về sau, nhưng chiều ngược lại thì không ghi nhận [3]. Ngoài ra, tổng quan này phát hiện mối quan hệ một chiều: lo âu dự báo tình trạng buồn ngủ quá mức vào ban ngày, nhưng buồn ngủ ban ngày không liên quan đến trầm cảm [3].
Về vai trò cầu nối của giấc ngủ, một nghiên cứu công bố năm 2019 đã phân tích dữ liệu kéo dài 14 năm trên mẫu đại diện toàn quốc gồm 20.745 thanh thiếu niên (50,5% là nữ, tuổi trung bình ở đợt đầu là 16,20) [5]. Các tác giả đánh giá lo âu và trầm cảm ở đợt I, giấc ngủ ở đợt II và trầm cảm ở đợt IV [5]. Mô hình phương trình cấu trúc chỉ ra rằng chính chứng mất ngủ và giấc ngủ không hồi phục là yếu tố trung gian dẫn dắt từ lo âu ban đầu đến trầm cảm về sau [5]. Đáng lưu ý, thời lượng ngủ (số giờ ngủ) không đóng vai trò trung gian có ý nghĩa trong mối liên hệ này [5].
Ngược lại, một nghiên cứu kéo dài 6 năm tại New Zealand trên hơn 17.000 thanh thiếu niên và người lớn (được trích dẫn trong phân tích năm 2022) lại ghi nhận mối quan hệ một chiều: thời lượng ngủ dài hơn giúp dự báo mức độ căng thẳng tâm lý (bao gồm các yếu tố lo âu và trầm cảm) thấp hơn vào 1 năm sau đó [6].
Mất ngủ và lo âu còn liên đới đến cả triệu chứng thể chất như đau nhức. Một nghiên cứu dọc năm 2022 theo dõi 5 đợt hàng năm trên 2.767 thanh thiếu niên (tuổi trung bình ban đầu là 13,65) đã xem xét mối liên hệ giữa triệu chứng mất ngủ và đau cơ xương khớp [7]. Kết quả xác nhận mối quan hệ hai chiều giữa mất ngủ và đau, trong đó tác động từ mất ngủ dẫn đến đau mạnh hơn chiều ngược lại [7]. Tâm trạng lo âu và tâm trạng trầm cảm đóng vai trò trung gian dẫn truyền tác động từ mất ngủ sang cảm giác đau, nhưng không làm trung gian cho chiều từ đau sang mất ngủ; trong khi cảm xúc tích cực không làm trung gian ở bất kỳ chiều nào [7].
Lợi ích và giới hạn của các bằng chứng hiện tại
Các nghiên cứu theo dõi dọc trên hàng nghìn người đã đem lại góc nhìn rõ ràng hơn: mất ngủ không đơn thuần là hệ quả phụ, mà còn là yếu tố báo trước và làm cầu nối thúc đẩy các rối loạn cảm xúc cũng như đau nhức cơ thể [5] [1] [7].
Tuy nhiên, giới khoa học thẳng thắn chỉ ra nhiều giới hạn trong kho dữ liệu hiện tại. Một bài phân tích năm 2022 nhận định bằng chứng về mối quan hệ qua lại theo thời gian vẫn còn hạn chế và chưa tạo thành một bức tranh hoàn toàn thống nhất; có nghiên cứu thấy quan hệ hai chiều, có nghiên cứu chỉ thấy một chiều từ giấc ngủ sang tâm trạng, hoặc không thấy liên hệ theo thời gian [6]. Sự khác biệt này có thể do công cụ đo lường: việc chỉ đo thời lượng ngủ ở một số khảo sát không nắm bắt được hết toàn bộ phổ triệu chứng mất ngủ như các thang đo chuyên biệt [6]. Hơn nữa, bối cảnh xã hội như giai đoạn đầu đại dịch COVID-19 với những tác động tâm lý đặc thù cũng làm kết quả nghiên cứu phụ thuộc vào hoàn cảnh [6].
Bản thân tổng quan hệ thống năm 2013 cũng lưu ý chưa thể đưa ra kết luận dứt khoát cho mọi loại rối loạn giấc ngủ do số lượng nghiên cứu còn ít và mẫu khảo sát không đồng nhất [3].
Một điểm mù khác là sự chồng chéo bệnh lý. Nghiên cứu năm 2022 trong bối cảnh điều trị lo âu tự nhiên chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây thường tách riêng từng chẩn đoán lo âu mà bỏ qua sự giao thoa lớn giữa các nhóm triệu chứng và sự hiện diện của trầm cảm đi kèm [8]. Ví dụ, trong chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD), kết quả nghiên cứu cả bằng bảng hỏi chủ quan lẫn đo đa ký giấc ngủ hay điện não đồ khách quan đều không nhất quán [8]. Ở một mẫu cộng đồng lớn, người mắc OCD có tỷ lệ báo cáo mất ngủ cao hơn, nhưng mối liên hệ này không còn ý nghĩa thống kê sau khi đã kiểm soát các rối loạn khí sắc và sử dụng chất đi kèm [8].
Những hiểu lầm thường gặp
Hiểu lầm phổ biến nhất suốt nhiều thập kỷ là coi mất ngủ chỉ là "triệu chứng thứ phát" sau lo âu — tức là cứ hết lo âu thì giấc ngủ sẽ tự khắc bình thường trở lại [2].
Quan điểm lâm sàng hiện đại đã bác bỏ cách hiểu cũ này [2]. Sự khởi phát và diễn tiến của lo âu cùng mất ngủ gắn bó mật thiết và tác động qua lại theo thời gian [2]. Trừ khi người bệnh được đánh giá và can thiệp ngay từ những giai đoạn khởi phát sớm nhất, còn lại khi hai tình trạng đã cùng tồn tại, y giới khuyến nghị phải nhìn nhận chúng như hai bệnh lý đồng mắc độc lập [2]. Mỗi tình trạng lúc này đều đòi hỏi sự can thiệp điều trị nhắm trúng đích riêng biệt thì mới đạt được kết quả tối ưu [2].
Hiểu lầm thứ hai là chỉ chăm chăm đếm số giờ ngủ. Như nghiên cứu 14 năm trên hơn 20.000 người đã chỉ ra, cảm giác mất ngủ và ngủ không ngon giấc mới là cầu nối dẫn từ lo âu sang trầm cảm, chứ không phải tổng thời lượng ngủ dài hay ngắn [5].
Ai nên thận trọng?
Nhóm đầu tiên cần đặc biệt lưu tâm là trẻ em và thanh thiếu niên. Các vấn đề giấc ngủ từ thời thơ ấu đã được chứng minh là yếu tố dự báo trầm cảm và lo âu sau này [3]. Ở tuổi dậy thì, mất ngủ không chỉ dẫn đường cho lo âu tiến triển thành trầm cảm mà còn kích hoạt tâm trạng lo âu, trầm cảm để làm trầm trọng thêm các cơn đau cơ xương khớp [5] [7].
Nhóm thứ hai là những người đã có sẵn triệu chứng ở một trong hai vế. Người đang có biểu hiện lo âu có nguy cơ cao gấp более 4 lần bị mất ngủ mới sau một năm, và người đang mất ngủ có nguy cơ cao gấp hơn 2 lần rơi vào các đợt lo âu nặng [1].
Nhóm thứ ba là người mắc nhiều rối loạn tâm lý hoặc thể chất chồng chéo, chẳng hạn vừa lo âu, vừa có dấu hiệu trầm cảm hoặc sử dụng chất kích thích [8]. Do bệnh đồng mắc là quy luật phổ biến chứ không phải ngoại lệ ở người bệnh, việc tự chẩn đoán hoặc chỉ điều trị một mặt bệnh rất dễ bỏ sót căn nguyên [8]. Người có bệnh nền hoặc đang dùng thuốc điều trị cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi áp dụng bất kỳ biện pháp can thiệp nào.
Áp dụng thực tế để cắt đứt vòng xoắn
Vì lo âu và mất ngủ tác động hai chiều và được xem là hai vấn đề độc lập khi cùng xuất hiện, nguyên tắc cốt lõi trong đời sống là phải chăm sóc đồng thời cả sức khỏe tinh thần ban ngày lẫn chất lượng giấc ngủ ban đêm [2].
Thứ nhất, chú trọng "chất lượng hồi phục" của giấc ngủ thay vì chỉ ép bản thân nằm đủ số giờ trên giường [5]. Thiết lập giờ đi ngủ và thức dậy cố định, giữ phòng ngủ tối, yên tĩnh, mát mẻ và ngắt các thiết bị điện tử trước giờ ngủ để não bộ thực sự được nghỉ ngơi.
Thứ hai, giải tỏa căng thẳng tâm lý ngay trong ngày. Các thói quen lành mạnh như vận động thể lực đều đặn, tập hít thở sâu, viết nhật ký giải tỏa suy nghĩ trước khi lên giường giúp làm dịu hoạt động quá mức của vùng não xử lý cảm xúc, ngăn lo âu chuyển hóa thành đêm mất ngủ [6] [4]. Nếu đang gặp tình trạng buồn ngủ rũ rượi vào ban ngày, hãy nhìn nhận lại mức độ lo âu của bản thân vì lo âu là yếu tố dự báo tình trạng này [3].
Thứ ba, can thiệp y tế sớm và toàn diện. Khi nhận thấy tình trạng trằn trọc hoặc bồn chồn kéo dài, người bệnh nên đi khám sớm ngay giai đoạn đầu [2]. Khi trao đổi với bác sĩ, cần mô tả đầy đủ cả triệu chứng giấc ngủ, tâm trạng lo âu, nỗi buồn chán lẫn các cơn đau nhức cơ thể để bác sĩ xây dựng phác đồ điều trị kép nhắm vào từng vấn đề [8] [2] [7].
Tóm lại, không cần tranh cãi xem lo âu hay mất ngủ là kẻ khơi mào, bởi chúng nuôi dưỡng lẫn nhau theo vòng tròn khép kín [1] [3]. Chủ động bảo vệ giấc ngủ ngon mỗi đêm và quản lý căng thẳng ban ngày chính là chìa khóa kép để giữ vững sự cân bằng cho cả tâm trí lẫn cơ thể [6] [2]. Khi các triệu chứng vượt quá khả năng tự điều chỉnh, việc tìm đến bác sĩ chuyên khoa để điều trị song song cả hai tình trạng là bước đi cần thiết và khoa học nhất [2].
