Ngủ ngáy to, giật mình thức giấc giữa đêm kèm cảm giác hụt hơi là nỗi ám ảnh của nhiều người có vòng bụng lớn. Nhiều người lầm tưởng đây chỉ là biểu hiện của sự mệt mỏi đơn thuần sau ngày dài làm việc. Thắc mắc phổ biến đặt ra là liệu lớp mỡ tích tụ quanh vùng bụng có liên quan trực tiếp đến tình trạng tắc nghẽn hơi thở khi ngủ hay không.
Câu trả lời là có. Mỡ bụng, đặc biệt là lớp mỡ nội tạng nằm sâu bên trong khoang bụng, chính là thủ phạm âm thầm làm hẹp đường thở và cản trở hoạt động hô hấp vào ban đêm [1]. Không chỉ làm giảm thể tích phổi từ phía dưới, tình trạng béo phì trung tâm còn đi kèm sự tích tụ mỡ quanh vùng hầu họng, khiến đường thở dễ dàng bị xẹp xuống khi cơ thể chìm vào giấc ngủ [1].
Cơ chế mỡ thừa bóp nghẹt đường thở khi ngủ
Hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA) là tình trạng đường hô hấp trên bị tắc nghẽn hoàn toàn (ngưng thở) hoặc tắc nghẽn một phần (giảm thở) lặp đi lặp lại trong lúc ngủ [2]. Bệnh được xác định khi chỉ số ngưng thở - giảm thở (AHI) từ 5 lần mỗi giờ trở lên kèm theo triệu chứng buồn ngủ vào ban ngày [3]. Hậu quả trực tiếp của tình trạng này là gây thiếu oxy máu ngắt quãng và làm phân mảnh giấc ngủ [2].
Kích thước và độ mở của đường thở vùng hầu họng phụ thuộc vào sự tương tác giữa cấu trúc giải phẫu và sự điều khiển của hệ thần kinh đối với các cơ làm giãn hầu họng [1]. Một nghiên cứu công bố năm 2009 chỉ ra rằng tình trạng béo phì gây ra hai tác động cơ học riêng biệt làm tăng nguy cơ xẹp đường thở vùng hầu [1].
Thứ nhất là gây mất cân bằng cấu trúc giải phẫu vùng hầu họng [1]. Cơ thể tích tụ nhiều mỡ sẽ làm tăng lượng mô mềm bao quanh đường thở bên trong khung xương hàm mặt vốn có không gian giới hạn, từ đó chiếm chỗ và thu hẹp lối đi của không khí [1].
Thứ hai là cơ chế giảm thể tích phổi do mỡ bụng [1]. Tình trạng béo phì trung tâm làm gia tăng thể tích mỡ nội tạng trong khoang bụng, đẩy cơ hoành lên và làm giảm thể tích phổi [1]. Khi thể tích phổi bị thu hẹp, lực kéo dọc lên khí quản bị suy giảm, làm mất đi độ căng tự nhiên giữ cho vách vùng hầu họng đứng vững, khiến đường thở rất dễ bị xẹp xuống [1].
Khi thức, hệ thần kinh có cơ chế bù trừ giúp duy trì hoạt động của các cơ mở đường thở dù có bất thường về cấu trúc [1]. Tuy nhiên, cơ chế bảo vệ này bị mất đi trong lúc ngủ, dẫn đến tắc nghẽn vùng hầu [1]. Sự mất ổn định trong hệ thống phản hồi âm của hệ hô hấp sẽ làm đẩy nhanh chu kỳ đóng và mở đường thở lặp đi lặp lại suốt đêm [1].
Ngoài yếu tố cơ học, mỡ nội tạng còn thúc đẩy nền tảng viêm mạn tính thông qua các chất trung gian gây viêm (cytokine), góp phần trực tiếp vào cơ chế bệnh sinh của chứng ngưng thở khi ngủ và làm giảm chỉ số bão hòa oxy máu (SaO2) trong đêm [3], [4].
Bằng chứng khoa học về mỡ hầu họng và mỡ nội tạng
Mối liên hệ giữa sự tích tụ mỡ và mức độ nặng của bệnh ngưng thở khi ngủ đã được chứng minh qua nhiều công trình nghiên cứu.
Một nghiên cứu công bố năm 1993 đã khảo sát trực tiếp thể tích mô mỡ nằm sát đường thở vùng hầu ở 30 người, bao gồm 9 người không mắc bệnh và 21 người mắc chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn [5]. Các nhà khoa học sử dụng phương pháp chụp cộng hưởng từ (MRI) vùng đầu cổ giới hạn từ ngành xương hàm dưới, cột sống đến vòm miệng kết hợp đo đa ký giấc ngủ tiêu chuẩn [5]. Kết quả cho thấy tất cả đối tượng đều có mô mỡ quanh đường hô hấp trên, nhưng thể tích khối mỡ này có mối tương quan thuận chặt chẽ với số lần ngưng thở và giảm thở mỗi giờ ngủ (hệ số tương quan r = 0,59, p < 0,001) [5]. Đáng chú ý, ở 2 bệnh nhân được theo dõi trước và sau khi giảm cân, việc sụt cân giúp giảm rõ rệt thể tích mỡ vùng hầu và giảm hẳn số cơn ngưng thở, giảm thở [5]. Nghiên cứu này có giới hạn là cỡ mẫu nhỏ (30 người) và chỉ theo dõi giảm cân trên 2 trường hợp [5].
Để làm rõ vai trò của mỡ nội tạng vùng bụng so với tổng lượng mỡ toàn cơ thể, một nghiên cứu năm 2022 đã phân tích 100 bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 có độ tuổi trung bình là 47,0 ± 13,6 tuổi [2]. Nhóm đối tượng này được đo đa ký giấc ngủ qua đêm và quét hấp thụ tia X năng lượng kép (DXA) toàn thân để đo tỷ lệ phần trăm mỡ cơ thể (BFP) cùng diện tích mô mỡ nội tạng (VAT area) [2]. Kết quả ghi nhận tỷ lệ mắc ngưng thở khi ngủ ở nhóm bệnh nhân này lên tới 80% [2]. Chỉ số ngưng thở - giảm thở (AHI) tăng tỷ lệ thuận với diện tích mỡ nội tạng (r = 0,433, p ≤ 0,001) và chỉ số mỡ nội tạng CVAI (r = 0,355, p ≤ 0,001), nhưng lại không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tổng tỷ lệ mỡ cơ thể BFP (r = 0,107, p = 0,294) [2]. Phân tích hồi quy đa biến khẳng định diện tích mỡ nội tạng (tỷ số chênh OR hiệu chỉnh là 1,025; p = 0,023) và chỉ số CVAI (OR hiệu chỉnh là 1,018; p = 0,030) là hai yếu tố nguy cơ độc lập gây ngưng thở khi ngủ [2]. Giới hạn của nghiên cứu là chỉ thực hiện trên nhóm bệnh nhân đã mắc đái tháo đường tuýp 2 [2].
Không dừng lại ở tác động một chiều, giấc ngủ bị đứt quãng còn quay ngược lại phá hủy mô mỡ bụng. Một nghiên cứu thực nghiệm trên chuột công bố năm 2012 đã cho chuột tiếp xúc với tình trạng phân mảnh giấc ngủ trong 6 giờ, sau đó phân tích biểu hiện gen (mRNA và miRNA) tại mô mỡ nội tạng [6]. Kết quả phát hiện sự phân mảnh giấc ngủ kích hoạt các con đường gây rối loạn điều hòa insulin, làm thay đổi cân bằng glucose và lipid trong máu [6].
Một nghiên cứu thí điểm năm 2019 cũng tiến hành sinh thiết 300 mg mỡ bụng vào buổi sáng (từ 8 đến 9 giờ sáng sau khi nhịn ăn qua đêm) ở 10 nam giới mới chẩn đoán mắc OSA mức độ nặng và 4 nam giới không mắc bệnh có cùng độ tuổi, chỉ số khối cơ thể (BMI) [7]. Nhóm nghiên cứu có tuổi trung bình 47,4 ± 13,8 tuổi, BMI trung bình 35,8 ± 4,8 kg/m2 và chỉ số AHI trung bình rất cao ở mức 79,4 ± 46,1 lần/giờ [7]. Kết quả phân tích mô học cho thấy mức độ xơ hóa mô mỡ có tương quan với vòng eo (r = -0,66, p = 0,038) và vòng cổ (r = -0,790, p = 0,006), đồng thời điểm số lo âu (HADS-A) tương quan thuận với sự tích tụ đại thực bào gây viêm trong mô mỡ bụng (r = 0,82, p = 0,047) [7]. Giới hạn của nghiên cứu thí điểm này là quy mô mẫu rất nhỏ (14 người) và chỉ thực hiện ở nam giới [7].
Vòng xoắn bệnh lý giữa mỡ bụng, thiếu oxy đêm và rối loạn chuyển hóa
Các bằng chứng khoa học cho thấy mỡ nội tạng có tốc độ phân giải lipid rất cao [8]. Khi lượng mỡ nội tạng dư thừa, nó sẽ giải phóng một lượng lớn axit béo tự do (FFA) có hại đi qua tĩnh mạch cửa về gan, làm tăng nồng độ triglyceride tại gan và gây kháng insulin ở gan [8]. Sự lắng đọng mỡ lạc chỗ này cũng xảy ra ở cơ và tim, khiến mỡ nội tạng trở thành yếu tố liên quan đến kháng insulin mạnh hơn nhiều so với lớp mỡ dưới da [8].
Tuy nhiên, khi xét riêng ở nhóm người không béo phì, tình trạng thiếu oxy ban đêm do ngưng thở khi ngủ lại đóng vai trò nguy hiểm không kém. Một nghiên cứu năm 2013 trên những người đàn ông không béo phì mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ xác nhận vòng eo có tương quan thuận với tình trạng kháng insulin và nguy cơ tim mạch chuyển hóa [8]. Thế nhưng, phân tích đa biến chỉ ra rằng chính tình trạng thiếu oxy ban đêm (đo bằng nồng độ bão hòa oxy máu trung bình ban đêm SpO2), chứ không phải mỡ bụng, mới là yếu tố liên quan độc lập với kháng insulin tại gan và độ nhạy insulin toàn thân [8]. Nghiên cứu này cũng dẫn lại kết quả khảo sát trên 118 bệnh nhân và 270 bệnh nhân đo đa ký giấc ngủ, khẳng định mức độ nặng của chỉ số AHI và tình trạng thiếu oxy máu ban đêm làm suy giảm độ nhạy insulin một cách độc lập, bất kể tỷ lệ mỡ cơ thể [8].
Mặt khác, nghiên cứu năm 2021 cho thấy sự kết hợp giữa rối loạn chức năng đường hô hấp trên và phế nang cùng lượng mỡ nội tạng cao sẽ tạo ra môi trường thiếu oxy và stress oxy hóa (tăng gốc tự do ROS vượt quá khả năng chống oxy hóa) [4]. Tình trạng ngưng thở khi ngủ mức độ nặng còn phá vỡ cấu trúc giấc ngủ sâu (giai đoạn 3 và 4 của giấc ngủ không cử động mắt nhanh NREM) ở những bệnh nhân tương đối trẻ, làm cản trở quá trình dọn dẹp các protein gây thoái hóa thần kinh và ảnh hưởng xấu đến trí nhớ, nhận thức [4].
Những hiểu lầm thường gặp về cân nặng và ngưng thở khi ngủ
Hiểu lầm phổ biến nhất là cho rằng chỉ những người có tổng cân nặng lớn hoặc tỷ lệ mỡ toàn thân cao mới bị ngưng thở khi ngủ. Thực tế, nghiên cứu năm 2022 đã chứng minh tổng tỷ lệ phần trăm mỡ cơ thể (BFP) không liên quan có ý nghĩa thống kê với nguy cơ mắc OSA, mà chính diện tích mỡ nội tạng (mỡ bụng) mới là yếu tố quyết định [2]. Ngay cả những người đàn ông không béo phì nhưng có vòng eo lớn và mắc chứng ngưng thở khi ngủ vẫn phải đối mặt với tình trạng thiếu oxy ban đêm và kháng insulin nghiêm trọng [8].
Hiểu lầm thứ hai là nghĩ rằng có thể dùng thuốc để chữa dứt điểm chứng ngưng thở khi ngủ mà không cần giảm mỡ. Theo tài liệu y khoa năm 2008, hiện không có phương pháp điều trị bằng thuốc đặc hiệu nào được chứng minh là có hiệu quả đối với hội chứng ngưng thở - giảm thở khi ngủ do tắc nghẽn [3].
Ai nên thận trọng?
Những người có tình trạng béo phì trung tâm (vòng eo lớn, tích nhiều mỡ nội tạng) và vòng cổ lớn là nhóm đầu tiên cần đặc biệt cảnh giác với chứng ngưng thở khi ngủ [1], [7].
Bệnh nhân mắc đái tháo đường tuýp 2 cần hết sức thận trọng và nên tầm soát giấc ngủ sớm. Số liệu thống kê cho thấy có khoảng 48% bệnh nhân đái tháo đường có chỉ số AHI trên 10 lần/giờ, và trong nhóm nghiên cứu năm 2022, tỷ lệ mắc OSA ở người tiểu đường tuýp 2 lên tới 80% [2].
Những người mắc hội chứng chuyển hóa, tăng huyết áp, hoặc thường xuyên có triệu chứng buồn ngủ ban ngày, mệt mỏi, lo âu, trầm cảm cũng cần đi khám chuyên khoa hô hấp [3], [7]. Ngoài ra, bệnh nhân béo phì mắc OSA khi phải thực hiện các ca phẫu thuật có gây mê cần được bác sĩ quản lý đường thở chu phẫu hết sức chặt chẽ để đảm bảo an toàn [1].
Giải pháp giảm mỡ bụng và bảo vệ đường thở thực tế
Để cải thiện chứng ngưng thở khi ngủ, việc điều trị béo phì và giảm mỡ nội tạng phải được đặt lên hàng đầu [3]. Giảm cân giúp giảm trực tiếp thể tích mô mỡ chèn ép quanh vùng hầu họng, giải phóng áp lực lên phổi và cải thiện độ nhạy insulin [8], [5], [3].
Trong sinh hoạt hằng ngày, người bệnh cần thực hiện thay đổi lối sống thông qua chế độ ăn kiểm soát năng lượng (hạn chế tinh bột tinh chế, chất béo bão hòa, tăng cường rau xanh và đạm nạc) kết hợp tăng cường vận động thể lực đều đặn để đốt cháy mỡ nội tạng [8], [3], [4]. Việc duy trì thói quen đi bộ và vận động giúp cải thiện chức năng hô hấp và giảm rủi ro tim mạch [4].
Đối với việc điều trị y tế, tùy theo mức độ bệnh qua đo đa ký giấc ngủ, bác sĩ có thể chỉ định sử dụng thiết bị thở máy áp lực dương liên tục (CPAP) khi ngủ để giữ đường thở không bị xẹp [3]. Trong một số trường hợp chọn lọc, bác sĩ có thể cân nhắc thuốc điều trị béo phì hoặc phẫu thuật giảm cân (phẫu thuật bariatric) và các thủ thuật can thiệp đường thở [3]. Người có bệnh nền như tiểu đường, tim mạch hoặc đang dùng thuốc điều trị cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi thay đổi chế độ tập luyện hoặc áp dụng các biện pháp giảm cân.
Mỡ bụng không chỉ là vấn đề thẩm mỹ mà còn là gánh nặng cơ học và chuyển hóa bóp nghẹt hơi thở trong mỗi giấc ngủ [1], [3]. Chủ động thu gọn vòng eo thông qua lối sống lành mạnh sẽ giúp giải phóng cơ hoành, mở rộng đường thở và ngăn ngừa vòng xoắn bệnh lý tim mạch, tiểu đường. Khi có dấu hiệu ngáy to kèm buồn ngủ ban ngày, người bệnh nên đến cơ sở y tế để được đo đa ký giấc ngủ và tư vấn phác đồ điều trị phù hợp [3].




