Khi nhắc tới phòng ngừa loãng xương và gãy xương, đa số mọi người chỉ nghĩ đến canxi hoặc vitamin D. Ít ai để ý rằng các vi chất khác, tiêu biểu là vitamin B12, cũng đóng vai trò trong quá trình chuyển hóa tế bào xương. Rất nhiều người cao tuổi băn khoăn liệu tình trạng thiếu hụt B12 mạn tính có khiến xương giòn và dễ gãy hơn bình thường hay không.

Câu trả lời ngắn gọn: Có mối liên hệ nhất định, nhưng không hoàn toàn trực tiếp. Thiếu hụt vitamin B12 làm tăng tích tụ homocysteine trong máu, từ đó làm suy giảm chất lượng cấu trúc xương và làm tăng nguy cơ gãy xương ở người già [2, 5]. Tuy nhiên, tác động trực tiếp của nồng độ vitamin B12 lên mật độ khoáng của xương (BMD) vẫn còn nhiều điểm chưa đồng nhất giữa các nghiên cứu lâm sàng [1, 2, 5, 7].

Cơ chế tác động: Mắt xích mang tên homocysteine

Để hiểu tác động của vitamin B12 lên xương, cần xem xét mối quan hệ giữa vitamin này và một loại axit amin trong máu gọi là homocysteine. Vitamin B12, cùng với folate (axit folic), là yếu tố đồng xúc tác thiết yếu trong chu trình chuyển hóa bình thường nhằm tái tạo methionine từ homocysteine [1]. Khi cơ thể thiếu vitamin B12 hoặc folate, homocysteine không được chuyển hóa kịp thời, dẫn đến nồng độ chất này trong huyết tương tăng cao [2, 4].

Nồng độ homocysteine cao (>15 µmol/L) rất phổ biến, xuất hiện ở khoảng 30% đến 50% người cao tuổi [2]. Tình trạng này có thể ảnh hưởng tiêu cực tới xương thông qua việc làm biến đổi cấu trúc liên kết chéo của collagen xương hoặc làm thay đổi hoạt động của các tế bào tạo xương (osteoblast) và tế bào hủy xương (osteoclast) [3]. Khi mạng lưới collagen suy yếu, xương sẽ trở nên giòn, giảm khả năng chịu lực va đập và dễ gãy hơn ngay cả khi mật độ khoáng chất đo được chưa giảm quá sâu [3].

Bằng chứng từ các nghiên cứu dịch tễ và tổng quan lớn

Mối liên hệ giữa vitamin B12, homocysteine và nguy cơ gãy xương đã được đánh giá qua nhiều phân tích gộp quy mô lớn.

Một phân tích tổng quan hệ thống và phân tích gộp năm 2013 thu thập dữ liệu từ 27 nghiên cứu quan sát (gồm 14 nghiên cứu cắt ngang và 13 nghiên cứu tiến cứu) cùng 1 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng [2]. Kết quả phân tích gộp từ 4 nghiên cứu tiến cứu theo dõi trên 7.475 người chỉ ra rằng: nguy cơ gãy xương giảm khiêm tốn 4% cho mỗi mức tăng 50 pmol/L nồng độ vitamin B12 trong máu, đạt mức có ý nghĩa thống kê biên giới (RR = 0,96; KHO 95%: 0,92 - 1,00) [2]. Đồng thời, phân tích gộp từ 8 nghiên cứu trên 11.511 người ghi nhận nguy cơ gãy xương tăng thêm 4% cho mỗi mức tăng 1 µmol/L nồng độ homocysteine (RR = 1,04; KHO 95%: 1,02 - 1,07) [2]. Tuy vậy, phân tích gộp về mối liên hệ trực tiếp giữa vitamin B12 và mật độ xương chỉ thực hiện được trên phụ nữ và không thấy mối liên hệ rõ rệt [2].

Tại Mỹ, nghiên cứu khảo sát trên 1.550 nam và nữ từ 55 tuổi trở lên thuộc chương trình NHANES III đã đo mật độ xương vùng hông bằng phương pháp DXA [4]. Sau khi hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu, các nhà khoa học nhận thấy nồng độ methylmalonic acid (MMA) - một chỉ dấu sinh học đặc hiệu phản ánh tình trạng thiếu hụt B12 ở mô - tăng lên thì mật độ xương giảm và tỷ lệ loãng xương tăng có ý nghĩa thống kê (P < 0,01) [4]. Nghiên cứu cũng ghi nhận nồng độ vitamin B12 huyết thanh dưới phân vị thứ 25 làm tăng nguy cơ loãng xương hoặc giảm mật độ xương với tỷ số chênh OR là 2,0 (KHO 95%: 1,0 - 3,9) [4]. Những người có homocysteine ≥ 20 µmol/L có mật độ xương thấp hơn rõ rệt so với nhóm có homocysteine < 10 µmol/L [4].

Nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có đối chứng mù đôi B-PROOF được thiết kế trên 2.919 người từ 65 tuổi trở lên có homocysteine tăng cao (≥ 12 µmol/L) trong 2 năm nhằm đánh giá việc bổ sung phối hợp 500 µg vitamin B12 và 400 µg axit folic (cả hai nhóm đều nhận 600 IU vitamin D) có làm giảm tỷ lệ gãy xương hay không [1]. Nghiên cứu này khẳng định thêm giả thuyết rằng thiếu hụt B12 và tăng homocysteine là mục tiêu can thiệp quan trọng để giảm gãy xương ở người già [1].

Tranh cãi xung quanh mật độ khoáng của xương (BMD)

Mặc dù bằng chứng về nguy cơ gãy xương khá nhất quán, dữ liệu đánh giá ảnh hưởng trực tiếp của nồng độ vitamin B12 lên mật độ khoáng của xương (BMD) lại mang lại nhiều kết quả trái chiều [1, 2, 5, 7].

Một nghiên cứu cắt ngang năm 2015 trên 139 phụ nữ sau mãn kinh đo mật độ xương tại cột sống thắt lưng, cổ xương đùi và toàn bộ khớp háng cho thấy: nồng độ homocysteine cao liên quan nghịch với mật độ xương và là yếu tố dự báo độc lập của loãng xương, nhưng nồng độ vitamin B12 huyết thanh lại không cho thấy mối liên hệ có ý nghĩa với mật độ xương ở nhóm này [5].

Tương tự, nghiên cứu năm 2012 tại Brazil trên 70 phụ nữ sau mãn kinh không triệu chứng (độ tuổi trung bình 62,5) đo mật độ xương bằng DXA ghi nhận: mức vitamin B12 trung bình ở nhóm xương bình thường (590,2 pg/mL), nhóm giảm mật độ xương (536,6 pg/mL) và nhóm loãng xương (590,2 pg/mL) không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P = 0,881) [6].

Ngược lại, một nghiên cứu cắt ngang năm 2009 trên 178 phụ nữ sau mãn kinh tại Thổ Nhĩ Kỳ lại ghi nhận loãng xương ở cột sống thắt lưng và cổ xương đùi có liên quan tới mức B12 nằm dưới nhóm ngũ phân vị thấp nhất kết hợp với homocysteine trên mức trung vị [7].

Trong một nhóm đối tượng đặc thù là 125 bệnh nhân Nhật Bản mắc đái tháo đường típ 2, việc phân tích lượng dinh dưỡng ăn vào cho thấy nồng độ homocysteine tương quan nghịch với mật độ khoáng xương cột sống thắt lưng và cổ xương đùi, cũng như tương quan nghịch với lượng folate nạp vào [8]. Lượng tiêu thụ rau xanh thấp đi kèm với nồng độ folate thấp và homocysteine cao nhất [8].

Các tổng quan y văn cho rằng tổng hòa bằng chứng hiện nay cho thấy homocysteine cao và vitamin B12 thấp tác động rõ ràng hơn lên chất lượng xương và nguy cơ gãy xương, thay vì tác động lớn lên chỉ số mật độ khoáng BMD đo bằng máy [3].

Lợi ích và giới hạn của các bằng chứng khoa học

Nhìn chung, các nghiên cứu quan sát trên nhiều quần thể khác nhau đều ủng hộ nhận định rằng duy trì đủ vitamin B12 và kiểm soát homocysteine ở mức bình thường giúp hạn chế nguy cơ gãy xương ở người cao tuổi [2, 5]. Đây là yếu tố nguy cơ có thể can thiệp được bằng dinh dưỡng.

Tuy nhiên, phần lớn các dữ liệu hiện có đến từ các nghiên cứu cắt ngang và nghiên cứu đoàn hệ quan sát [2, 5]. Nghiên cứu cắt ngang chỉ ghi nhận tương quan tại một thời điểm, chưa thể khẳng định chắc chắn mối quan hệ nhân quả tuyệt đối giữa nồng độ B12 và bệnh lý xương [4]. Cơ chế chính xác vitamin B12 tác động độc lập hay chỉ gián tiếp qua việc hạ homocysteine vẫn cần thêm các thử nghiệm lâm sàng đối chứng lớn để làm sáng tỏ [3].

Hiểu lầm thường gặp về sức khỏe xương khớp

Nhiều người lầm tưởng chỉ cần uống thật nhiều canxi là xương sẽ chắc khỏe vĩnh viễn. Trên thực tế, xương là một mô sống phức tạp đòi hỏi nhiều vi chất để duy trì cả mật độ khoáng lẫn độ dẻo dai của khung nền protein collagen [3]. Thiếu hụt vitamin B12 dù không phải nguyên nhân duy nhất nhưng có thể làm giòn cấu trúc collagen của xương [3].

Hiểu lầm thứ hai là chỉ số mật độ xương (T-score trên kết quả đo DXA) bình thường thì không bao giờ bị gãy xương. Nguy cơ gãy xương ở người cao tuổi và bệnh nhân đái tháo đường có thể tăng ngay cả khi mật độ xương bình thường hoặc giảm nhẹ, do cấu trúc vi thể của xương bị suy giảm [3, 5]. Vì thế, việc chỉ tập trung vào chỉ số BMD mà bỏ qua các yếu tố nguy cơ chuyển hóa như tăng homocysteine hay thiếu B12 có thể dẫn tới sự chủ quan trong phòng ngừa [2, 5].

Ai nên thận trọng với tình trạng thiếu vitamin B12?

Người từ 65 tuổi trở lên cần đặc biệt lưu ý vì khả năng tiết axit dạ dày giảm dần theo tuổi tác, dẫn đến giảm hấp thu vitamin B12 từ thực phẩm tự nhiên [2, 4].

Người ăn thuần chay trường diễn nếu không bổ sung vi chất từ bên ngoài rất dễ thiếu hụt B12 do vitamin này chủ yếu có trong thực phẩm nguồn gốc động vật. Người mắc bệnh lý đường tiêu hóa mạn tính, người từng phẫu thuật cắt dạ dày, hoặc người đang dùng thuốc giảm tiết axit dạ dày dài ngày cũng nằm trong nhóm nguy cơ cao kém hấp thu B12.

Bệnh nhân mắc đái tháo đường típ 2 cũng là đối tượng cần chú ý, do chế độ kiêng khem calo đôi khi dẫn đến thiếu hụt các vi chất nhóm B thiết yếu cho xương [8]. Những người có tiền sử gia đình gãy xương hoặc đã có dấu hiệu giảm mật độ xương cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa để được xét nghiệm máu kiểm tra nồng độ B12 và homocysteine khi cần thiết [1, 6].

Cách áp dụng thực tế và bổ sung hợp lý

Để bảo vệ hệ cơ xương khớp toàn diện, người lớn tuổi cần phối hợp chế độ dinh dưỡng đa dạng thay vì chỉ phụ thuộc vào viên uống bổ trợ.

Về chế độ ăn, nên ưu tiên các nguồn thực phẩm tự nhiên giàu vitamin B12 như cá, thịt gia cầm, trứng, sữa và các sản phẩm từ sữa. Đối với folate, cần tăng cường rau có màu xanh đậm vào thực đơn mỗi ngày vì lượng tiêu thụ rau xanh tỷ lệ thuận với nồng độ folate và giúp kiểm soát homocysteine máu [8].

Khi lựa chọn chế phẩm bổ sung, người cao tuổi cần trao đổi với bác sĩ điều trị để xác định đúng liều lượng. Trong các thử nghiệm lâm sàng, liều bổ sung B12 thường được nghiên cứu ở mức 500 µg kết hợp cùng 400 µg axit folic và vitamin D hàng ngày nhằm hỗ trợ ổn định homocysteine và bảo vệ xương [1]. Tuyệt đối không tự ý dùng liều cao kéo dài nếu chưa có chỉ định hoặc theo dõi y khoa.

Duy trì khung xương chắc khỏe ở tuổi xế chiều đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa vận động, dinh dưỡng cân bằng và theo dõi sức khỏe định kỳ. Bên cạnh việc bổ sung canxi và vitamin D, chú ý duy trì đủ lượng vitamin B12 và folate trong chế độ ăn hàng ngày là bước đi quan trọng giúp người cao tuổi giảm thiểu rủi ro loãng xương và gãy xương ngoài ý muốn.