Nhịn ăn gián đoạn 16/8 — nhịn 16 giờ, ăn trong khung 8 giờ mỗi ngày — đang trở thành trào lưu giảm cân và cải thiện mỡ máu của nhiều người trưởng thành. Tuy nhiên, với người có bệnh lý tim mạch hoặc đang uống thuốc huyết áp, chống đông máu, việc bỏ bữa kéo dài dễ làm dấy lên nỗi lo choáng váng, tụt huyết áp hay rối loạn nhịp tim.

Câu trả lời ngắn gọn từ các dữ liệu y khoa hiện có: Nhịn ăn gián đoạn nhìn chung an toàn với người khỏe mạnh và có thể chấp nhận được ở bệnh nhân tim mạch đã ổn định, nhưng tiềm ẩn rủi ro đáng kể cho người có bệnh tim mạch chưa ổn định hoặc từng bị nhồi máu cơ tim, đột quỵ [1] [2] [3]. Đặc biệt, tình trạng thiếu hụt năng lượng và mất nước khi nhịn ăn có thể gây chóng mặt, ngất xỉu và làm tăng nguy cơ biến cố ở nhóm bệnh nhân có sẵn rung nhĩ, suy tim hoặc đau thắt ngực không ổn định [1] [2].

Nhịn ăn 16/8 tác động lên tim mạch và huyết áp ra sao?

Các chế độ ăn giới hạn thời gian trong khoảng 14 đến 18 giờ mỗi ngày, phổ biến nhất là 16/8, tạo ra khoảng trống năng lượng giúp cơ thể điều chỉnh chuyển hóa [4] [5].Ở người có nguy cơ tim mạch chuyển hóa, phương pháp này giúp giảm cân và cải thiện nhiều chỉ số sức khỏe [1]. Cụ thể, việc giảm nồng độ insulin thông qua nhịn ăn giúp hạn chế tình trạng giữ nước — một yếu tố làm tăng nguy cơ suy tim sung huyết — đồng thời giảm viêm hệ thống và cải thiện mỡ máu [4] [6].

Về mặt sinh học, quá trình nhịn ăn kích hoạt biểu hiện của các thụ thể PPAR-alpha và PGC-1 alpha tại gan [6]. Cơ chế này thúc đẩy quá trình oxy hóa axit béo, tăng sản xuất protein có lợi Apo A và giảm tổng hợp Apo B, từ đó cải thiện cấu trúc hạt mỡ máu và hạn chế xơ vữa động mạch [6]. Ngoài ra, việc hạn chế calo tự nguyện kéo dài ở người trưởng thành trung niên có liên quan đến việc giảm huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương, giảm chỉ số viêm CRP và làm giảm 40% độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh [7].

Tuy vậy, mặt trái của việc ngừng nạp thức ăn trong nhiều giờ là nguy cơ hạ đường huyết và mất nước [1]. Khi không ăn, cơ thể mất đi một lượng nước đáng kể vốn được cung cấp qua thực phẩm hàng ngày [2]. Mất nước kết hợp với thiếu hụt năng lượng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cảm giác choáng váng, chóng mặt, suy nhược, ngất xỉu (syncope) và té ngã [1] [2]. Đáng lưu ý, mất nước còn là yếu tố nguy cơ dẫn đến đột quỵ và huyết khối tắc mạch [1].

Nghiên cứu khoa học nói gì về lợi ích và độ an toàn?

Các bằng chứng về nhịn ăn gián đoạn và bệnh tim trải dài từ thử nghiệm trên động vật, nghiên cứu quan sát cho đến các thử nghiệm lâm sàng và tổng quan y văn trên người [7] [3] [8].

Trên mô hình động vật, một nghiên cứu công bố năm 2005 đã thử nghiệm chế độ nhịn ăn cách ngày kéo dài 3 tháng trên chuột 2 tháng tuổi trước khi gây nhồi máu cơ tim [8]. Kết quả sau 24 giờ cho thấy nhóm chuột nhịn ăn có kích thước ổ nhồi máu nhỏ hơn 2 lần, số tế bào cơ tim chết theo chương trình ở vùng nguy cơ ít hơn 4 lần và giảm phản ứng viêm so với nhóm ăn hàng ngày [8]. Theo dõi qua siêu âm tim suốt 10 tuần tiếp theo cũng ghi nhận nhóm nhịn ăn không bị giãn rộng vùng nhồi máu và bảo tồn chức năng tâm thất trái tốt hơn [8]. Dù vậy, đây mới là dữ liệu trên động vật, chưa thể áp dụng trực tiếp thành phác đồ điều trị cho người [7] [8].

Ở người, một nghiên cứu quan sát năm 2019 dẫn lại khảo sát trên 448 người theo đạo Mormon tại bang Utah (Mỹ) cho thấy những người thực hành nhịn ăn định kỳ có nguy cơ mắc bệnh mạch vành thấp hơn đáng kể so với người không nhịn ăn, với tỷ số chênh hiệu chỉnh là 0,46 [7]. Một khảo sát tiếp theo trên 200 bệnh nhân chụp mạch vành thường quy cũng củng cố mối liên hệ giữa thói quen nhịn ăn và giảm nguy cơ bệnh mạch vành [7].

Đối với nhóm bệnh nhân có bệnh chuyển hóa, một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên kéo dài 52 tuần trên 137 người béo phì mắc đái tháo đường tuýp 2 (tuổi trung bình 61, chỉ số đường huyết HbA1c ban đầu 7,3%) đã so sánh chế độ nhịn ăn 5:2 (ăn 500-600 kcal/ngày trong 2 ngày mỗi tuần) với chế độ giảm calo liên tục (1200-1500 kcal/ngày) [6]. Sau 12 tháng, tỷ lệ hoàn thành nghiên cứu đạt 70% ở cả hai nhóm; mức giảm HbA1c tương đương nhau (giảm 0,3%), nhưng nhóm nhịn ăn gián đoạn giảm cân nhiều hơn với mức giảm 6,8 kg [6].

Về tính an toàn trực tiếp trên người bệnh tim, một tổng quan y văn năm 2022 đã đánh giá dữ liệu nhịn ăn tháng Ramadan ở bệnh nhân tim mạch [3]. Nghiên cứu ghi nhận việc nhịn ăn an toàn ở những bệnh nhân tim mạch có tình trạng bệnh ổn định, ngay cả khi đang dùng nhiều loại thuốc [3]. Nhịn ăn trong giai đoạn này không làm thay đổi huyết áp ở người tăng huyết áp, và tỷ lệ biến cố tim mạch ở người bệnh mạch vành hay suy tim không khác biệt so với các tháng không nhịn ăn [3]. Tuy nhiên, chỉ số đông máu INR ở bệnh nhân dùng thuốc chống đông đường uống có tăng nhẹ khi nhịn ăn, đòi hỏi phải theo dõi sát ở người có nguy cơ chảy máu cao [3].

Khoảng trống bằng chứng về rối loạn nhịp và biến cố cấp

Dù có nhiều tín hiệu tích cực, giới khoa học nhấn mạnh rằng các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trên người hiện nay mới chỉ tập trung vào việc cải thiện các yếu tố nguy cơ chuyển hóa, chứ chưa đánh giá trực tiếp các biến cố lâm sàng nặng [7]. Mặt khác, các kết quả về độ an toàn phần lớn bị bỏ qua trong nhiều nghiên cứu về nhịn ăn gián đoạn [1].

Một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng công bố năm 2021 (thử nghiệm WONDERFUL) về nhịn ăn 1 lần mỗi tuần cho thấy chỉ số mỡ xấu LDL-C không giảm như kỳ vọng, đi kèm tỷ lệ bỏ cuộc ở nhóm nhịn ăn lên tới 24,0% [5]. Các tác giả lưu ý rằng ở những người đã phát triển bệnh mạch vành, một số bệnh nhân có thể gặp các biến cố cấp tính đe dọa tính mạng như nhồi máu cơ tim cấp, suy tim mới mắc hoặc rối loạn nhịp tim, và chỉ số LDL-C không dự báo được sự xuất hiện của các biến cố này khi bệnh đã hình thành [5].

Bên cạnh đó, một bài báo năm 2019 về quản lý lâm sàng chỉ rõ: ở những người đã mắc các bệnh mạn tính như rung nhĩ (một dạng rối loạn nhịp tim phổ biến), suy tim, đau thắt ngực không ổn định hay bệnh mạch vành, phản ứng của cơ thể với việc nhịn ăn vẫn chưa được biết rõ [2]. Việc để những bệnh nhân này đối mặt với nguy cơ nhồi máu cơ tim mới, đột quỵ hoặc tử vong khi chưa có đủ bằng chứng nghiên cứu là điều không được khuyến khích [2].

Những hiểu lầm thường gặp khi người bệnh tim nhịn ăn

Hiểu lầm phổ biến nhất là cho rằng "nhịn ăn giúp giảm mỡ máu nên sẽ ngăn chặn ngay cơn đau tim hay loạn nhịp". Thực tế, tác hại của mỡ máu LDL-C là quá trình tích tụ mảng xơ vữa kéo dài hàng thập kỷ, và việc giảm cân nhẹ hay nhịn ăn ngắn hạn không đảm bảo ngăn ngừa ngay các cơn rối loạn nhịp tim hay nhồi máu cơ tim cấp ở người đã có bệnh mạch vành [5].

Hiểu lầm thứ hai là đồng nhất cảm giác chóng mặt, mệt lả khi nhịn ăn 16/8 với "triệu chứng tụt huyết áp do đói bình thường". Các tài liệu y khoa cảnh báo chóng mặt, choáng váng, buồn nôn, mất ngủ, đau nửa đầu và ngất xỉu là các tác dụng phụ cần theo dõi sát [1] [2]. Ở người có tiền sử đột quỵ, nhồi máu cơ tim hoặc đang dùng thuốc điều trị đái tháo đường, đây có thể là dấu hiệu của hạ đường huyết nguy hiểm tính mạng hoặc mất nước dẫn đến huyết khối [1].

Hiểu lầm thứ ba là nhịn ăn thì hạn chế luôn cả việc uống nước hoặc không bù thêm nước. Thực chất, khi cắt giảm bữa ăn, cơ thể bị thiếu hụt lượng chất lỏng vốn có trong thức ăn, làm tăng nguy cơ mất nước và choáng váng [2].

Ai nên thận trọng hoặc tránh nhịn ăn 16/8?

Dựa trên các báo cáo an toàn năm 2019 và 2023, những nhóm đối tượng sau cần đặc biệt thận trọng hoặc không nên tự ý nhịn ăn gián đoạn:

Thứ nhất, người có bệnh tim mạch chưa ổn định hoặc biến chứng nặng, bao gồm: đau thắt ngực không ổn định, suy tim, rung nhĩ, bệnh mạch vành, tiền sử nhồi máu cơ tim, tiền sử đột quỵ hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua (nhất là người còn triệu chứng tồn dư sau biến cố), và người có huyết khối tắc mạch ngoại biên hoặc tắc mạch phổi [1] [2].

Thứ hai, bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông máu đường uống [3]. Do nhịn ăn có thể làm tăng nhẹ chỉ số INR, nhóm bệnh nhân có nguy cơ xuất huyết cao bắt buộc phải được bác sĩ theo dõi xét nghiệm nếu thay đổi chế độ ăn [3].

Thứ ba, người mắc bệnh đái tháo đường kèm bệnh tim mạch [1] [2]. Người mắc đái tháo đường tuýp 1 (đặc biệt là trẻ em) không được nhịn ăn trừ khi có chỉ định và giám sát y tế [1]. Người mắc đái tháo đường tuýp 2, tiền đái tháo đường hoặc kháng insulin đang dùng thuốc hạ đường huyết phải hỏi ý kiến bác sĩ trước khi nhịn ăn, vì thuốc kết hợp với nhịn đói dễ gây hạ đường huyết tử vong và mất nước [1].

Thứ tư, các nhóm dễ tổn thương khác gồm: người cao tuổi có thể trạng suy yếu (frail), phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú, trẻ nhỏ, người mắc bệnh thận mạn tính nặng, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), hen suyễn, ung thư hoặc người từng ghép tạng [1] [2].

Áp dụng thực tế thế nào để an toàn cho tim mạch?

Nếu bạn chỉ có các yếu tố nguy cơ chuyển hóa (như thừa cân, mỡ máu cao) hoặc có bệnh tim mạch đã hoàn toàn ổn định và muốn thử khung giờ ăn 16/8, nguyên tắc đầu tiên là phải tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị để rà soát lại phác đồ thuốc, đặc biệt là thuốc chống đông máu và thuốc tiểu đường [1] [3].

Trong khung 16 giờ nhịn ăn, việc bổ sung đủ nước lọc là yêu cầu bắt buộc ở mọi lứa tuổi [2]. Bạn cần chủ động uống nhiều nước hơn bình thường để bù lại lượng nước bị thiếu hụt do cắt giảm khẩu phần thức ăn đặc, từ đó phòng ngừa mất nước, giữ ổn định tuần hoàn và giảm nguy cơ huyết khối hay đột quỵ [1] [2].

Trong khung 8 giờ được phép ăn, không nên ăn bù quá mức hoặc bỏ đói cơ thể quá kiệt quệ gây suy dinh dưỡng [1]. Với người không phù hợp nhịn liên tục 16 giờ mỗi ngày, bác sĩ có thể cân nhắc giải pháp thay thế là giảm calo liên tục vừa phải (khoảng 1200-1500 kcal/ngày), vốn đã được chứng minh mang lại hiệu quả kiểm soát đường huyết tương đương với nhịn ăn gián đoạn sau 12 tháng [6].

Trong suốt quá trình thực hiện, nếu xuất hiện các dấu hiệu cảnh báo như: chóng mặt, hoa mắt, đau đầu, buồn nôn, yếu sức làm cản trở sinh hoạt hàng ngày, hoặc cảm giác sắp ngất, người bệnh cần ngừng nhịn ăn ngay và liên hệ cơ sở y tế [1] [2].

Nhìn chung, nhịn ăn gián đoạn 16/8 là một công cụ hỗ trợ giảm cân và cải thiện chuyển hóa chi phí thấp, nhưng không phải là phương pháp không có rủi ro cho người bệnh tim [1] [2]. Giữ bệnh nền ổn định, uống đủ nước và luôn thảo luận với bác sĩ trước khi thay đổi giờ giấc ăn uống mới là chìa khóa bảo vệ trái tim an toàn.