Nhịn ăn gián đoạn đang trở thành phương pháp kiểm soát cân nặng phổ biến nhờ tính linh hoạt và không đòi hỏi kiêng khem quá nhiều nhóm thực phẩm. Tuy nhiên, không ít người sau vài tuần rút ngắn khung giờ ăn bắt đầu gặp tình trạng đầy bụng, số lần đi tiêu giảm rõ rệt và phân khô cứng.

Vậy nhịn ăn gián đoạn có thực sự gây táo bón hay không? Câu trả lời là có thể xảy ra ở một số người, chủ yếu bắt nguồn từ việc giảm tổng lượng thức ăn nạp vào làm hụt thể tích khối phân, kết hợp với sự thay đổi nhịp vận động sinh lý của ống tiêu hóa khi giãn cách các cữ ăn [5, 7].

Cơ chế vận động của ruột khi nhịn đói và khi ăn

Để hiểu vì sao thay đổi giờ ăn lại ảnh hưởng đến việc đi tiêu, cần nhìn vào cách hệ tiêu hóa vận hành trong hai trạng thái: nhịn đói và sau ăn [1]. Nhu động ruột non kiểm soát quá trình vận chuyển và hấp thu các chất dinh dưỡng đi vào cơ thể [1]. Ở người bình thường, vận động của đường tiêu hóa trên tuân theo một chu kỳ lúc đói, gắn liền với việc bài tiết dịch và đẩy các chất qua dạ dày cũng như ruột non theo từng đợt [2].

Biểu hiện đặc trưng nhất ở trạng thái nhịn đói là phức hợp vận động di chuyển, viết tắt là MMC [3, 5]. Đây là hoạt động co bóp có tính chu kỳ đều đặn và được xem như một chỉ số khách quan phản ánh sức khỏe vận động của ruột [3]. Mỗi chu kỳ MMC bao gồm ba pha với thời lượng khác nhau [1]. Pha I là giai đoạn ruột nghỉ ngơi, chiếm khoảng 20% đến 30% tổng thời gian chu kỳ [1]. Pha II có các cơn co thắt ngắt quãng và không đều, kéo dài từ 40% đến 60% chu kỳ [1]. Đáng chú ý nhất là Pha III kéo dài từ 5 đến 10 phút với các cơn co bóp nhịp nhàng, cường độ mạnh lan truyền từ phần đầu đến phần cuối ruột non nhằm quét sạch thức ăn thừa [1].

Khi chúng ta ăn một bữa có đủ chất dinh dưỡng, kiểu vận động lúc đói (MMC) sẽ lập tức chuyển sang kiểu vận động sau ăn [5, 7]. Lúc này, ruột thực hiện các cơn co thắt ngắt quãng với biên độ không đều, tương tự như Pha II của chu kỳ lúc đói [1]. Thời gian duy trì kiểu vận động sau ăn dài hay ngắn phụ thuộc trực tiếp vào cả chất lượng lẫn số lượng chất dinh dưỡng bạn vừa nạp vào [2]. Khi áp dụng nhịn ăn gián đoạn, việc cắt giảm số bữa và lượng ăn khiến thời gian kích hoạt vận động sau ăn bị rút ngắn, đồng thời lượng bã thức ăn tạo phân cũng giảm theo [2].

Nghiên cứu khoa học nói gì về rối loạn vận động tiêu hóa và táo bón?

Các dữ liệu khoa học cho thấy táo bón, đặc biệt là táo bón chậm nhu động, không đơn thuần là vấn đề tại đại tràng mà liên quan mật thiết đến phản xạ vận động và nội tiết của toàn bộ đường tiêu hóa trên ngay cả trong lúc đói lẫn sau ăn [1, 4, 6, 8].

Một nghiên cứu công bố năm 1999 đã khảo sát hoạt động vận động của đường tiêu hóa trên ở 18 bệnh nhân được chẩn đoán táo bón chậm nhu động và so sánh với 10 tình nguyện viên khỏe mạnh [4]. Các nhà khoa học đo nhu động vùng hang vị - tá tràng lúc đói bằng phương pháp đo áp lực tưới máu trong ít nhất một chu kỳ MMC hoàn chỉnh hoặc tối đa 300 phút, kết hợp đo vận động thực quản, làm rỗng dạ dày và thời gian vận chuyển miệng - manh tràng [4]. Kết quả cho thấy tất cả người khỏe mạnh đều có ít nhất một chu kỳ MMC hoàn chỉnh, nhưng chỉ 9 trên 18 bệnh nhân táo bón đạt được điều này [4]. Ở những bệnh nhân còn lại, chu kỳ MMC bị khuyết (5 người) hoặc mất hẳn hoạt động co bóp mạnh của Pha III (4 người) [4]. Diện tích dưới đường cong co bóp ở cuối Pha II ở nhóm táo bón cũng nhỏ hơn đáng kể so với nhóm đối chứng (1509±296 mmHg x s so với 2997±614 mmHg x s) [4]. Ngoài ra, 5 trên 18 bệnh nhân có bất thường nhu động thực quản và 8 trên 15 bệnh nhân bị chậm làm rỗng dạ dày [4].

Sự suy giảm phản xạ tiêu hóa sau ăn ở người táo bón còn thể hiện rõ tại dạ dày và hệ nội tiết đường ruột. Một nghiên cứu năm 2001 đánh giá chức năng vận động và cảm giác dạ dày bằng thiết bị barostat trên 17 bệnh nhân táo bón chậm nhu động và 16 người khỏe mạnh thông qua quy trình làm căng đẳng áp từng bước và dùng bữa ăn lỏng [5]. Kết quả ghi nhận độ giãn nở của phần trên dạ dày và khả năng giãn đáy vị sau ăn ở bệnh nhân táo bón bị suy giảm rõ rệt, tỷ lệ thuận với các triệu chứng khó chịu đường tiêu hóa trên hằng ngày [5]. Đồng thời, lượng hormone cholecystokinin và gastrin tiết ra trong máu sau bữa ăn ở nhóm bệnh nhân này cũng thấp hơn bình thường [5].

Ở góc độ nội tiết tố đường ruột khi nhịn đói và khi có thức ăn, một nghiên cứu năm 2000 đã tiến hành truyền dịch dinh dưỡng trực tiếp vào tá tràng trên 21 bệnh nhân táo bón chậm nhu động và 8 người đối chứng khỏe mạnh để đo nồng độ hormone cholecystokinin và peptide YY [6]. Kết quả chỉ ra nồng độ cholecystokinin huyết tương lúc đói ở người bị táo bón cao hơn nhóm khỏe mạnh (3,1±0,2 pM so với 2,4±0,2 pM) và giảm chậm hơn sau khi kích thích từ bữa ăn (ở giai đoạn 60 đến 90 phút) [6]. Trong số các bệnh nhân được kiểm tra bằng bữa ăn đặc, đa số (12 trên 18 người) bị chậm làm rỗng dạ dày, và các bất thường về hormone cholecystokinin chỉ xuất hiện ở phân nhóm có dạ dày tiêu hóa chậm này [6].

Không chỉ dạ dày và ruột non, túi mật cũng tham gia vào phản xạ tiêu hóa chung. Một nghiên cứu năm 1999 đánh giá khả năng làm rỗng túi mật qua siêu âm trên 16 bệnh nhân táo bón chậm nhu động và 20 người khỏe mạnh [7]. Người tham gia được kích thích thần kinh phế vị bằng phương pháp ăn giả có điều chỉnh trong 90 phút và kích thích nội tiết bằng truyền hormone cholecystokinin (liều 0,5 IDU/kg/giờ) trong 60 phút [7]. Thể tích túi mật lúc đói của người bệnh nhỏ hơn nhóm chứng (17 cm3 so với 24 cm3) [7]. Khi kích thích thần kinh bằng ăn giả, tỷ lệ làm rỗng túi mật ở người táo bón chỉ đạt 11% (tương đương 2,1 cm3), thấp hơn nhiều so với mức 22% (tương đương 4,9 cm3) ở người khỏe mạnh [7]. Tuy nhiên, tỷ lệ phần trăm làm rỗng túi mật khi truyền hormone cholecystokinin lại không khác biệt giữa hai nhóm (73% so với 67%), chứng tỏ phản xạ thần kinh điều khiển tiêu hóa bị suy giảm ở người táo bón [7].

Tình trạng này cũng được ghi nhận ở trẻ em. Một nghiên cứu công bố năm 2014 thực hiện siêu âm bụng cho 105 trẻ em châu Á từ 3 đến 13 tuổi, gồm 55 trẻ bị táo bón chức năng mạn tính và 50 trẻ khỏe mạnh tương đồng về tuổi và giới tính [8]. Chỉ số co bóp túi mật trung bình tính theo diện tích trước và sau ăn ở nhóm trẻ táo bón chỉ đạt 15,77±24,68, thấp hơn đáng kể so với mức 43,66±11,58 ở trẻ bình thường [8]. Những trẻ bị giảm vận động túi mật có thể tích túi mật sau ăn lớn hơn và thời gian bị táo bón kéo dài hơn, trung bình là 4,8 tháng [8].

Mặt khác, một nghiên cứu năm 1996 sử dụng hệ thống ống thông tưới máu khảo sát trên 5 trẻ mắc hội chứng giả tắc ruột mạn tính, so sánh với trẻ bị táo bón vô căn và bệnh Hirschsprung [3]. Kết quả cho thấy trong khi nhóm giả tắc ruột bị mất hoặc rối loạn chu kỳ MMC lúc đói (4 trẻ mất hoàn toàn MMC phải nuôi ăn tĩnh mạch hoàn toàn), thì ở trẻ táo bón vô căn thông thường, chu kỳ MMC lúc đói vẫn duy trì bình thường [3].

Lợi ích và giới hạn của các bằng chứng hiện có

Các nghiên cứu trên cung cấp bức tranh sinh lý học rõ ràng: hoạt động co bóp đẩy thức ăn của ống tiêu hóa phụ thuộc chặt chẽ vào sự chuyển đổi nhịp nhàng giữa chu kỳ lúc đói (MMC) và phản xạ kích thích thần kinh - nội tiết khi có thức ăn đi vào [1, 5, 7]. Việc nạp đủ chất lượng và số lượng dinh dưỡng là điều kiện tiên quyết để duy trì thời gian vận động sau ăn của ruột [5, 7].

Tuy nhiên, giới hạn cần lưu ý là các nghiên cứu này chủ yếu khảo sát cơ chế sinh lý lúc đói và sau ăn trên người khỏe mạnh hoặc bệnh nhân đã mắc chứng táo bón mạn tính với cỡ mẫu vừa và nhỏ (từ 5 đến 105 người) [1, 2, 3, 4, 6, 8]. Hiện chưa có thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn nào trong các dữ liệu trên trực tiếp theo dõi những người ăn kiêng theo chế độ nhịn ăn gián đoạn để đo lường tỷ lệ phát sinh táo bón mới. Dù vậy, cơ chế sinh lý đã được xác lập cho phép giải thích hợp lý vì sao việc ăn quá ít hoặc giãn cữ ăn đột ngột dễ làm chậm phản xạ tiêu hóa.

Những hiểu lầm thường gặp khi bị táo bón lúc nhịn ăn

Hiểu lầm phổ biến đầu tiên là cho rằng nhịn ăn càng lâu thì ruột càng được "nghỉ ngơi" và tự làm sạch tốt hơn. Thực tế, trong trạng thái nhịn đói, Pha I của chu kỳ MMC vốn đã là giai đoạn nghỉ ngơi chiếm 20% đến 30% chu kỳ, và Pha III chỉ kéo dài 5 đến 10 phút để quét dọn ruột non [1]. Để tạo ra nhu động kiểu sau ăn nhằm nhào trộn và vận chuyển thức ăn hiệu quả xuống dưới, ruột bắt buộc cần một bữa ăn có đủ lượng chất dinh dưỡng nhất định [5, 7].

Hiểu lầm thứ hai là nghĩ rằng táo bón chỉ nằm ở đại tràng nên chỉ cần dùng thuốc thụt tháo là xong. Các nghiên cứu đã chứng minh người bị táo bón chậm nhu động thường đi kèm giảm phản xạ thần kinh phế vị, giảm giãn nở dạ dày sau ăn, chậm làm rỗng dạ dày và suy giảm cả khả năng co bóp túi mật sau bữa ăn [1, 2, 4, 6, 8]. Do đó, nếu bữa ăn trong khung giờ cho phép quá sơ sài, không đủ kích thích phản xạ thần kinh và hormone đường ruột (như cholecystokinin và gastrin), toàn bộ dây chuyền tiêu hóa từ trên xuống dưới đều hoạt động kém hiệu quả [1, 8].

Ai nên thận trọng khi áp dụng nhịn ăn gián đoạn?

Những người vốn có tiền sử táo bón mạn tính hoặc táo bón chậm nhu động cần đặc biệt thận trọng [1, 6]. Ở nhóm đối tượng này, chu kỳ vận động lúc đói (MMC) tại vùng hang vị - tá tràng vốn đã dễ bị khuyết thiếu hoặc mất Pha III, cộng thêm phản xạ giãn dạ dày và tiết hormone tiêu hóa sau ăn suy giảm [6, 8]. Việc kéo dài thời gian nhịn ăn hoặc cắt giảm khẩu phần quá mức có thể làm trầm trọng thêm tình trạng ứ trệ tiêu hóa.

Người thường xuyên có triệu chứng đầy bụng, chậm tiêu hóa thức ăn đặc cũng không nên ép khung giờ ăn quá hẹp, vì nghiên cứu cho thấy phần lớn bệnh nhân táo bón chậm nhu động có kèm theo tình trạng chậm làm rỗng dạ dày [2, 6]. Ngoài ra, trẻ em và thanh thiếu niên đang tuổi phát triển tuyệt đối không tự ý nhịn ăn gián đoạn, bởi táo bón ở trẻ em chiếm tới 3% số ca khám ngoại trú nhi khoa và 25% số ca khám chuyên khoa tiêu hóa nhi, với một phần ba trường hợp có nguy cơ tiến triển thành mạn tính kéo dài đến tuổi trưởng thành [8]. Người có bệnh nền đường tiêu hóa hoặc đang dùng thuốc điều trị cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi thay đổi lịch ăn uống, vì sự di chuyển và hấp thu thuốc tại ruột non chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các chu kỳ vận động lúc đói [2].

Cách áp dụng thực tế để phòng ngừa táo bón khi nhịn ăn gián đoạn

Để duy trì phương pháp nhịn ăn gián đoạn mà không làm đình trệ nhu động ruột, điều quan trọng nhất là đảm bảo cả "chất" và "lượng" trong các bữa ăn được phép [5, 7]. Vì sự chuyển đổi từ trạng thái nhịn đói sang trạng thái vận động tiêu hóa sau ăn phụ thuộc vào việc nạp đủ chất dinh dưỡng, bạn không nên ăn quá ít hoặc chỉ ăn đồ lỏng sơ sài trong khung giờ ăn [5, 7]. Hãy ưu tiên thực phẩm giàu chất xơ từ rau củ, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt để gia tăng thể tích khối phân.

Trong thời gian nhịn ăn, cơ thể vẫn diễn ra chu kỳ vận động lúc đói kèm theo sự bài tiết dịch và đẩy các chất qua dạ dày, ruột non [2]. Do đó, bạn cần uống đủ nước lọc xuyên suốt cả ngày để giữ độ ẩm cho phân, tránh tình trạng đại tràng tái hấp thu kiệt nước khi thức ăn di chuyển chậm.

Khi bắt đầu bữa ăn đầu tiên sau nhiều giờ nhịn, hãy dành thời gian nhìn, ngửi và nhai kỹ thức ăn. Nghiên cứu cho thấy phản xạ thần kinh phế vị ở giai đoạn đầu (kích thích qua giác quan và động tác nhai) đóng vai trò quan trọng trong việc kích hoạt túi mật và đường tiêu hóa trên hoạt động [7]. Thay vì dồn toàn bộ lượng thức ăn lớn vào một bữa duy nhất gây quá tải cho dạ dày vốn dễ bị chậm làm rỗng [2, 6], bạn nên chia đều thành 2 đến 3 bữa vừa phải trong khung giờ ăn và kết hợp vận động thể chất nhẹ nhàng sau ăn.

Nhịn ăn gián đoạn có thể làm tăng nguy cơ táo bón nếu bạn cắt giảm khẩu phần quá mức khiến khối phân bị thu nhỏ và phản xạ vận động sau ăn của ruột không được kích hoạt đầy đủ [5, 7]. Hiểu rõ nhịp sinh học lúc đói và sau ăn của ống tiêu hóa để bù đủ nước, ăn đủ chất xơ và nhai kỹ sẽ giúp bạn duy trì phương pháp này một cách an toàn [1, 5, 7]. Nếu tình trạng táo bón kéo dài kèm đầy trướng bụng sau ăn, bạn nên dừng việc nhịn ăn và đến gặp bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa để được thăm khám [6, 8].