Nhiều phụ nữ hiện đại phải tiếp tục lịch trực đêm, làm ca muộn hoặc luân phiên ca làm việc trong suốt thai kỳ do đặc thù nghề nghiệp như nhân viên y tế, công nhân nhà máy, dịch vụ hay truyền thông. Khi bước vào giai đoạn mang thai, câu hỏi khiến không ít thai phụ lo lắng là liệu việc đảo lộn giấc ngủ, làm việc ngược nhịp sinh học có làm tăng nguy cơ sảy thai, sinh non hay đái tháo đường thai kỳ hay không.

Các bằng chứng khoa học cho thấy làm ca đêm và lịch làm việc thất thường trong thai kỳ có liên quan đến việc gia tăng một số rủi ro sức khỏe sinh sản [1]. Cụ thể, các nghiên cứu ghi nhận mối liên hệ giữa việc trực ca đêm với nguy cơ sinh non, thai nhỏ so với tuổi thai và đái tháo đường thai kỳ [4, 5, 6].

Đồng hồ sinh học bị xáo trộn ảnh hưởng thai kỳ ra sao?

Cơ thể con người vận hành dựa trên nhịp ngày - đêm 24 giờ, điều hòa các hormone quan trọng và quá trình trao đổi chất của tế bào [2]. Khi phụ nữ mang thai làm việc ca đêm hoặc đổi ca liên tục, nhịp sinh học bị phá vỡ (chronodisruption) do lịch thức ngủ bị lệch pha nghiêm trọng so với tự nhiên [2]. Sự đảo lộn này có thể kích hoạt các phản ứng căng thẳng của hệ nội tiết và làm xáo trộn giấc ngủ sinh lý [4, 5].

Lịch làm ca muộn hoặc ca đêm làm gia tăng mức độ biến thiên của chu kỳ ngủ [3]. Nghiên cứu chỉ ra rằng phụ nữ làm ca tối có độ lệch thời điểm giữa giấc ngủ lên tới khoảng 45 phút so với những người chỉ làm việc ban ngày [3]. Sự bất thường trong việc canh giờ ngủ và nhịp thức ngủ gián tiếp góp phần làm tăng nguy cơ kháng insulin, thúc đẩy tiến triển của bệnh đái tháo đường thai kỳ [3].

Trực ca đêm và nguy cơ sinh non: Dữ liệu từ các nghiên cứu

Nhiều công trình dịch tễ học quy mô lớn đã đi sâu khảo sát ảnh hưởng của ca đêm đối với tuổi thai khi sinh. Một tổng quan hệ thống phân tích gộp từ 59 nghiên cứu ghi nhận rằng làm việc theo ca luân phiên làm tăng nguy cơ sinh non với tỷ số chênh (OR) là 1,13 (khoảng tin cậy 95% CI: 1,00 - 1,28) và làm việc ca đêm cố định làm tăng nguy cơ sinh non với OR là 1,21 (95% CI: 1,03 - 1,42) [3, 4]. Ngoài ra, việc đứng làm việc nhiều giờ cũng liên quan đến nguy cơ sinh con sớm với OR là 1,21 (95% CI: 1,11 - 1,33) [4].

Một nghiên cứu trên 845 phụ nữ mang thai phát hiện nhóm làm việc ca đêm có tỷ lệ sinh non là 20%, cao hơn đáng kể so với mức 15% ở nhóm làm việc ban ngày, tương ứng tỷ số chênh đã hiệu chỉnh (aOR) là 2,0 (95% CI: 1,1 - 3,4) [2]. Nghiên cứu cũng ghi nhận tỷ lệ trẻ sinh nhẹ cân ở nhóm làm ca đêm là 9%, so với 6% ở nhóm làm ca ngày (aOR 2,1; 95% CI: 1,1 - 4,1) [2].

Trong dự án nghiên cứu Mang thai, Nhiễm trùng và Dinh dưỡng (Pregnancy, Infection, Nutrition) trên 1.908 thai phụ, phụ nữ làm ca đêm trong 3 tháng đầu thai kỳ có nguy cơ sinh non tăng thêm 50% (nguy cơ tương đối RR 1,5; 95% CI: 1,0 - 2,0) [2]. Dữ liệu từ Nghiên cứu Sức khỏe Y tá (Nurses' Health Study) cũng ghi nhận mối liên quan giữa việc làm ca đêm và nguy cơ sinh non sớm trước tuần thứ 32 [2].

Nghiên cứu theo dõi tiến cứu dựa trên dữ liệu đăng ký tại Thụy Điển đối với 4.970 ca sinh đơn ở nhân viên y tế cho thấy chi tiết về tần suất trực đêm ảnh hưởng rõ rệt đến thai kỳ [5]. Nhóm phụ nữ thường xuyên trực đêm (trên 25 lần) trong 3 tháng đầu thai kỳ có nguy cơ sinh non tăng lên với OR là 1,62 (95% CI: 1,03 - 2,53) [5]. Những thai phụ từng làm từ 3 ca đêm liên tiếp trở lên trong 3 tháng đầu có OR sinh non là 1,43 (95% CI: 1,03 - 1,99) [5].

Đặc biệt, nếu thường xuyên làm từ 3 ca đêm liên tiếp trở lên (trên 8 lần) hoặc thường xuyên có thời gian nghỉ giữa các ca quá ngắn dưới 28 giờ (trên 18 lần) trong tam cá nguyệt đầu, nguy cơ sinh non tăng vọt từ 3 đến 4 lần [5]. Việc làm ca dài từ 10 giờ trở lên trên 20 lần trong 3 tháng đầu (OR 1,63; 95% CI: 1,07 - 2,49) hoặc làm việc trên 40 giờ trong bất kỳ tuần nào ở 3 tháng cuối thai kỳ (OR 2,05; 95% CI: 1,31 - 3,22) cũng đều liên quan mật thiết đến sinh non [5].

Tác động tới nguy cơ đái tháo đường thai kỳ và sảy thai

Bên cạnh nguy cơ chuyển dạ sớm, lịch trình ca kíp muộn còn tác động tiêu cực đến chuyển hóa của người mẹ. Nghiên cứu thuần tập tiến cứu nuMoM2b trên 10.038 phụ nữ mang thai lần đầu đã theo dõi các biến cố thai kỳ và đánh giá nhịp ngủ bằng thiết bị đeo cổ tay ít nhất 5 ngày [3]. Kết quả phân tích cho thấy làm việc ca tối (bao gồm ca chiều và đêm kết hợp) làm tăng khoảng 75% nguy cơ mắc đái tháo đường thai kỳ (aOR = 1,75; 95% CI: 1,12 - 2,66) [3]. Phân tích trung gian chỉ ra rằng sự biến thiên trong giờ ngủ giải thích tới 25% mối liên hệ giữa làm việc ca tối và bệnh đái tháo đường thai kỳ [3].

Về nguy cơ sảy thai, tổng kết các nghiên cứu về sức khỏe sinh sản cho thấy 7 trong số 9 công trình ghi nhận làm việc theo ca có thể liên quan đến tăng nguy cơ sảy thai tự nhiên [1]. Dù vậy, dữ liệu vẫn còn phân tán do sự khác biệt trong định nghĩa các loại ca làm việc ở từng nghiên cứu [1].

Thai nhi nhẹ cân và các kết cục sơ sinh khác

Mối liên hệ giữa lịch làm việc ban đêm với sự phát triển của thai nhi trong tử cung cũng được ghi nhận qua nhiều báo cáo khoa học [6, 8]. Nghiên cứu thuần tập quốc gia Ko-CHENS tại Hàn Quốc trên 4.944 phụ nữ mang thai từ năm 2015 đến 2020 cho thấy phụ nữ làm ca đêm có tỷ số chênh sinh con nhỏ hơn so với tuổi thai (SGA) cao gấp 2,643 lần so với nhóm không đi làm (aOR 2,643; 95% CI: 1,193 - 5,859) [6]. Tuy nhiên, nghiên cứu này không tìm thấy sự gia tăng có ý nghĩa thống kê về nguy cơ sinh non ở nhóm làm việc ca đêm so với nhóm làm ca ngày [6].

Đối với việc chăm sóc y tế cho trẻ sinh cực non (dưới 28 tuần thai), một nghiên cứu tại Tây Ban Nha trên 8.798 trẻ sinh từ năm 2011 đến 2019 qua mạng lưới cơ sở dữ liệu SEN1500 cho thấy thời điểm sinh (ban ngày hay ban đêm) không làm thay đổi tỷ lệ sống sót hay biến chứng nặng nội viện [7]. Dù vậy, trẻ sinh cực non vào ca đêm có tỷ lệ đặt nội khí quản cao hơn (OR 1,20; 95% CI: 1,06 - 1,37), tỷ lệ cần dùng chất hoạt diện surfactant cao hơn (OR 1,24; 95% CI: 1,08 - 1,44) và nguy cơ thiếu máu cần truyền máu cao hơn (OR 1,23; 95% CI: 1,08 - 1,42) so với trẻ sinh ban ngày [7].

Bằng chứng khoa học và những điểm còn tranh luận

Mặc dù có nhiều cảnh báo, một số nghiên cứu lớn lại ghi nhận kết quả không đồng nhất hoặc cho thấy ảnh hưởng của ca đêm không quá rõ ràng khi kiểm soát tốt các yếu tố gây nhiễu [1, 3, 6]. Trong nghiên cứu đoàn hệ tại Đan Mạch theo dõi 40.237 thai phụ, phân nhóm 400 phụ nữ làm ca đêm cố định không ghi nhận nguy cơ sinh non tăng lên có ý nghĩa thống kê (OR 0,70; 95% CI: 0,40 - 1,23) [8]. Đồng thời, sự thay đổi lịch trình làm việc từ ca đêm ở tam cá nguyệt đầu sang ca ngày ở tam cá nguyệt thứ hai cũng không làm thay đổi đáng kể tỷ lệ sinh non so với người duy trì ca đêm [8].

Một nghiên cứu quan sát đa trung tâm tại Brazil cũng ghi nhận việc tham gia công việc có trả lương có thể không làm tăng rủi ro, thậm chí hoạt động thể chất vừa phải trong quá trình làm việc còn mang lại lợi ích nhất định [4]. Các nhà nghiên cứu giải thích rằng hiện tượng "người lao động khỏe mạnh" (healthy worker survivor effect) có thể đóng vai trò quan trọng: những thai phụ có thể trạng yếu hoặc nhận thấy dấu hiệu bất thường đã chủ động xin nghỉ hoặc chuyển ca từ sớm, khiến nhóm còn duy trì trực ca đêm phần lớn là những người có nền tảng thể chất tốt hơn [1, 3]. Hơn nữa, chất lượng bằng chứng ở một số phân tích gộp vẫn ở mức thấp do chưa kiểm soát triệt để hoàn cảnh kinh tế - xã hội hay sai số nhớ lại của thai phụ [4].

Hiểu lầm thường gặp về làm ca đêm khi mang thai

Nhiều người lầm tưởng rằng chỉ cần ngủ bù đủ 8 tiếng vào ban ngày là có thể xóa bỏ hoàn toàn tác hại của việc thức đêm làm việc. Trên thực tế, giấc ngủ ban ngày thường kém sâu và không thể đồng bộ hóa hoàn toàn trục nội tiết cùng nồng độ hormone như nhịp sinh học tự nhiên ban đêm [4, 5].

Một hiểu lầm khác là cho rằng việc trực đêm chỉ gây nguy hiểm vào những tháng cuối thai kỳ. Dữ liệu từ các nghiên cứu ở Thụy Điển và Mỹ cho thấy tam cá nguyệt thứ nhất mới chính là giai đoạn đặc biệt nhạy cảm, khi việc trực đêm thường xuyên hoặc làm việc trên 3 đêm liên tiếp trong giai đoạn đầu này đã làm gia tăng đáng kể nguy cơ sinh non [4, 7].

Nhóm thai phụ cần đặc biệt thận trọng

Phụ nữ mang thai có tiền sử sinh non, tiền sử sảy thai liên tiếp hoặc đang mang đa thai cần đặc biệt cẩn trọng trước các lịch làm việc ban đêm [4, 8]. Những người được chẩn đoán có nguy cơ cao về chuyển hóa, thừa cân béo phì hoặc có dấu hiệu tiền đái tháo đường cũng cần cân nhắc kỹ do ca đêm làm tăng đáng kể nguy cơ tiến triển thành đái tháo đường thai kỳ [3].

Ngoài ra, những lao động phải làm việc trong điều kiện đứng liên tục nhiều giờ, công việc áp lực căng thẳng hoặc có lịch trực dày đặc với thời gian hồi phục giữa hai ca dưới 28 giờ thuộc nhóm đối tượng có rủi ro cao nhất cần được theo dõi sát sao [3, 7].

Gợi ý điều chỉnh công việc và sinh hoạt thực tế

Nếu tính chất công việc bắt buộc phải làm việc vào buổi tối hoặc ca đêm, thai phụ nên chủ động thảo luận với người sử dụng lao động để sắp xếp lộ trình làm việc an toàn hơn dựa trên các khuyến cáo y học [3, 7]:

  • Hạn chế tối đa các ca trực đêm liên tiếp: Thai phụ nên tránh làm việc từ 3 ca đêm liên tiếp trở lên trong một tuần, đặc biệt trong 3 tháng đầu thai kỳ [5].
  • Đảm bảo thời gian nghỉ hồi phục: Khoảng cách giữa ca đêm và ca làm việc tiếp theo nên kéo dài tối thiểu 28 giờ để cơ thể có thời gian bù đắp giấc ngủ và phục hồi sinh lực [5].
  • Giảm tổng thời gian làm việc: Thai phụ cần tránh làm việc kéo dài trên 10 giờ mỗi ca trong tam cá nguyệt đầu và không nên làm việc vượt quá 40 giờ một tuần trong 3 tháng cuối [5].
  • Thiết lập vệ sinh giấc ngủ khi ngủ bù ban ngày: Tạo không gian phòng ngủ thật tối, yên tĩnh và duy trì giờ đi ngủ cố định nhất có thể để giảm bớt độ biến thiên của chu kỳ ngủ [3].
  • Khám thai định kỳ đầy đủ: Thai phụ làm ca đêm cần chủ động thông báo lịch làm việc của mình với bác sĩ sản khoa để được tầm soát đường huyết thai kỳ đúng lịch và theo dõi chặt chẽ sự phát triển của thai nhi [5, 6].

Làm việc ca đêm trong thai kỳ tiềm ẩn những rủi ro nhất định đối với sức khỏe của cả mẹ và bé, nổi bật là nguy cơ sinh non, thai nhỏ so với tuổi thai và đái tháo đường thai kỳ [4, 5, 6]. Thai phụ cần cân bằng giữa yêu cầu công việc và an toàn sức khỏe bằng cách điều chỉnh lịch trực hợp lý, không làm việc quá sức và luôn tham vấn ý kiến chuyên môn của bác sĩ sản khoa khi có các biểu hiện mệt mỏi hay dấu hiệu bất thường.