Sau khi khỏi COVID-19, nhiều người vẫn cảm thấy hụt hơi khi leo cầu thang hoặc mệt mỏi kéo dài dù đã âm tính từ lâu. Trước thực trạng đó, nhiều người tìm đến các lớp tập yoga và bài tập thở kiểm soát với hy vọng mở rộng dung tích phổi, lấy lại sức bền hô hấp như trước khi mắc bệnh.
Câu trả lời ngắn gọn là có. Các dữ liệu khoa học hiện tại ghi nhận việc tập yoga có chọn lọc cùng các chương trình phục hồi chức năng hô hấp giúp cải thiện đáng kể nhiều chỉ số đo chức năng phổi, đặc biệt là thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (FEV1) [1] [2]. Tuy nhiên, hiệu quả phục hồi còn phụ thuộc vào thời gian tập luyện, tần suất thực hiện và tình trạng bệnh nền của từng người [1] [2].
Vì sao phổi yếu đi sau COVID-19 và bài tập thở giúp ích thế nào?
Bằng chứng khoa học cho thấy chức năng hô hấp bị suy giảm vẫn tồn tại ở khoảng 40% bệnh nhân sau khi xuất viện vì COVID-19, gây cản trở các hoạt động sinh hoạt hàng ngày và làm giảm chất lượng cuộc sống về lâu dài [3]. Người bệnh hậu COVID-19 có thể gặp tình trạng xơ phổi, suy giảm dung tích và thể tích phổi, yếu cơ hô hấp, khó thở, mệt mỏi và giảm khả năng chịu đựng khi vận động [4] [5] [2]. Những tổn thương phức tạp này xảy ra ở hầu hết các hệ cơ quan, đặc biệt là sự suy giảm thể lực sau thời gian nằm điều trị tích cực (ICU) kéo dài [4].
Trong y khoa, để đánh giá sức khỏe lá phổi, các bác sĩ thường đo hô hấp ký với các chỉ số quan trọng như FEV1 (thể tích khí thở ra gắng sức trong 1 giây đầu tiên), FVC (dung tích sống gắng sức - tổng lượng khí tối đa thở ra mạnh sau khi hít vào hết sức) và TLC (tổng dung tích phổi) [1] [5]. Ngoài ra, sức mạnh cơ hô hấp được đo bằng áp lực hít vào và thở ra tối đa (tính bằng đơn vị cmH2O) [5].
Các chương trình tập yoga có chọn lọc và phục hồi chức năng phổi tác động trực tiếp vào hệ thống cơ hô hấp [5] [2]. Việc rèn luyện cơ hít vào kết hợp vận động giúp tăng áp lực cơ thở ra, mở rộng thể tích khí lưu thông trong phổi và tăng mức tiêu thụ oxy đỉnh (VO2peak) của cơ thể [4] [5]. Nhờ đó, lá phổi lấy lại độ giãn nở, đẩy được nhiều không khí ra ngoài hơn trong giây đầu tiên (tăng chỉ số FEV1) và giảm cảm giác khó thở khi vận động [1] [5] [3].
Nghiên cứu về tập yoga và phục hồi chức năng phổi nói gì?
Một nghiên cứu so sánh theo dõi công bố năm 2025 tại Viện Khoa học Y khoa Toàn Ấn Độ (AIIMS Bhopal, miền Trung Ấn Độ) đã đánh giá trực tiếp tác động của chế độ tập yoga chọn lọc lên chức năng phổi bị rối loạn ở người sống sót sau COVID-19 [2]. Nghiên cứu thu nhận 82 người có suy giảm chức năng phổi, cho thực hiện chương trình phục hồi bằng yoga chọn lọc trong 8 tuần và đo lại bằng máy đo phế dung kỹ thuật số NDD (Thụy Sĩ) [2]. Kết quả sau 8 tuần cho thấy hầu hết các thông số chức năng phổi (bao gồm FEV1 và FVC tính theo phần trăm giá trị dự đoán tốt nhất) đều cải thiện có ý nghĩa thống kê, ngoại trừ tỷ lệ FEV1/FVC (p = 0,6), lưu lượng thở ra gắng sức trong khoảng 25%-75% dung tích (FEF 25%-75%, p = 0,014) và lưu lượng đỉnh thở ra (PEF, p = 0,12) [2].
Bên cạnh yoga chuyên biệt, các chương trình phục hồi chức năng hô hấp đa phương thức cũng cho kết quả rõ rệt trên chỉ số FEV1. Một phân tích gộp công bố năm 2023 đã rà soát 5.703 nghiên cứu từ các cơ sở dữ liệu lớn (như Cochrane, Embase, MEDLINE, Scopus) tính đến tháng 3/2022 và chọn ra 12 bài báo với tổng số 596 bệnh nhân hậu COVID-19 [1]. Kết quả phân tích bằng phần mềm R 4.0.2 cho thấy phục hồi chức năng hô hấp cải thiện hiệu quả chỉ số FEV1 (mức chênh lệch chuẩn hóa SMD đạt 1,14; khoảng tin cậy 95% từ 0,39 đến 1,18), dung tích sống gắng sức FVC (0,98; khoảng tin cậy 95% từ 0,39 đến 1,56) và tổng dung tích phổi TLC (0,83; khoảng tin cậy 95% từ 0,22 đến 1,44) [1]. Khoảng cách đi bộ trong 6 phút cũng tăng mạnh (1,56; khoảng tin cậy 95% từ 1,10 đến 2,02) cùng với chất lượng cuộc sống (0,99; khoảng tin cậy 95% từ 0,38 đến 1,60), nhưng không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ FEV1/FVC, mức độ lo âu và trầm cảm [1]. Giới hạn của phân tích này là có 1 nghiên cứu mang nguy cơ sai lệch cao bên cạnh 11 nghiên cứu có chất lượng từ trung bình đến cao [1].
Một thử nghiệm lâm sàng thí điểm công bố năm 2022 trên 29 bệnh nhân hậu COVID-19 (mức độ nhẹ, trung bình và nặng) cũng ghi nhận con số phục hồi cụ thể sau chương trình 16 buổi tập (trung bình hoàn thành 12,7 ± 2,7 buổi) gồm luyện cơ hít vào, tập aerobic và tập sức mạnh cơ ngoại vi [5]. Thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (FEV1) của người bệnh tăng từ 2,5 ± 0,7 lít lên 2,7 ± 0,7 lít (p = 0,001), còn dung tích sống gắng sức (FVC) tăng từ 2,9 ± 0,8 lít lên 3,2 ± 0,8 lít (p = 0,004) [5]. Sức mạnh cơ thở ra tăng có ý nghĩa từ 85,8 ± 32,8 cmH2O lên 106,7 ± 36,8 cmH2O (p < 0,001), trong khi áp lực cơ hít vào tăng từ 101,4 ± 46,3 lên 115,8 ± 38,3 cmH2O nhưng chưa đạt ý nghĩa thống kê (p = 0,117) [5]. Quãng đường đi bộ 6 phút tăng từ 326,3 ± 140,6 mét lên 445,4 ± 151,1 mét (tương ứng tăng từ 59,7% lên 82,6% giá trị dự đoán, p < 0,001) [5].
Một nghiên cứu cắt ngang công bố năm 2024 tại Bệnh viện Đại học Zagreb (Croatia) thu thập dữ liệu từ tháng 1/2021 đến tháng 12/2022 trên 80 bệnh nhân hội chứng hậu COVID (43 nữ, 37 nam, tuổi trung bình 51 ± 10) [6]. Chỉ sau 3 tuần tham gia chương trình phục hồi chức năng phổi, các chỉ số FVC, FEV1 và khả năng khuếch tán khí qua màng phế nang mao mạch (DLCO) đều cải thiện có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) [6]. Sức mạnh cơ hô hấp tăng mạnh (p < 0,001) với kích thước hiệu ứng từ nhỏ đến lớn (hệ số Cohen's d từ 0,39 đến 1,07), riêng áp lực hít vào tối đa (PImax) tính theo phần trăm đạt mức hiệu ứng lớn (Cohen's d = 0,99) [6].
Ngoài các bài tập thở, việc kết hợp vận động thể lực cũng đóng vai trò quan trọng. Một nghiên cứu bán thực nghiệm (công bố năm 2022 và 2023) thực hiện trên 26 người trưởng thành trên 18 tuổi, xuất viện ít nhất 15 ngày sau mắc COVID-19 [4] [7]. Người bệnh tập aerobic liên tục kết hợp tập kháng lực cường độ trung bình 2 buổi mỗi tuần trong tổng số 12 buổi ngoại trú [4] [7]. Kết quả là mức tiêu thụ oxy đỉnh (VO2peak) tăng 18,62%, thời gian đạt VO2peak tăng 29,05%, độ dốc thông khí/thải khí cacbonic (VE/VCO2 slope) giảm 5,21% và quãng đường đi bộ 6 phút tăng thêm 70,57 mét (p = 0,001), đồng thời cải thiện chức năng phổi, sức mạnh cơ hô hấp và giảm mệt mỏi [4] [7].
Lợi ích thực tế và những giới hạn cần biết của bằng chứng
Tổng hợp các nghiên cứu cho thấy lợi ích rõ ràng nhất của việc tập yoga chọn lọc và phục hồi hô hấp là tăng thể tích khí thở ra (FEV1, FVC), tăng sức mạnh cơ hô hấp và nâng cao sức bền vận động qua bài kiểm tra đi bộ 6 phút [1] [5] [6] [2]. Bên cạnh đó, một tổng quan hệ thống năm 2023 ghi nhận việc kết hợp yoga, liệu pháp tự nhiên, tô màu Mandala và bài tập thở giúp làm giảm lo âu và trầm cảm ở bệnh nhân COVID-19 mức độ nhẹ và trung bình [8]. Các kỹ thuật khác như tập khí công, bấm huyệt và kỹ thuật đi bộ "vặn mình và nâng tay" cũng giúp giảm khó thở và suy nhược ở mọi mức độ bệnh [8].
Tuy nhiên, độc giả cần nhìn nhận cả những giới hạn của bằng chứng khoa học hiện tại. Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp công bố năm 2022 (sàng lọc 6.000 nghiên cứu tính đến tháng 10/2021, chọn phân tích 3 thử nghiệm với 233 bệnh nhân) cho thấy dù quãng đường đi bộ 6 phút tăng rõ rệt (tăng 50,41 mét; khoảng tin cậy 95% từ 34,34 đến 66,48; p < 0,0001), nhưng kết quả đo chức năng phổi lại không đồng nhất giữa các nghiên cứu [3]. Các tác giả lưu ý cần thận trọng khi diễn giải hiệu quả lên chức năng phổi, triệu chứng khó thở và chất lượng cuộc sống do dữ liệu còn chưa đầy đủ, mâu thuẫn và có nguy cơ sai lệch liên quan đến việc làm mù người tham gia lẫn người hướng dẫn tập [3].
Tương tự, tổng quan hệ thống và phân tích gộp năm 2023 (tìm kiếm dữ liệu đến ngày 31/12/2021) đánh giá mức độ bằng chứng về hiệu quả của phục hồi chức năng phổi và tự tập luyện ở nhóm bệnh nhân COVID-19 nhẹ và hội chứng hậu COVID là "rất không chắc chắn" [8]. Trong phân tích này, mức tăng trung bình của FEV1 là 0,16 (khoảng tin cậy 95% từ 0,05 đến 0,28), tỷ lệ FEV1/FVC tăng 0,05 (khoảng tin cậy 95% từ 0,01 đến 0,09), còn FVC tăng 0,19 nhưng khoảng tin cậy cắt qua mức không có tác dụng (từ -0,03 đến 0,42), khả năng vận động tăng 65,06 (khoảng tin cậy 95% từ 42,87 đến 87,25) và mức độ lo âu giảm -12,03 (khoảng tin cậy 95% từ -21,16 đến -2,90) [8]. Do đó, giới khoa học vẫn cần thêm các nghiên cứu chất lượng cao hơn để chuẩn hóa phác đồ cho từng nhóm bệnh nhân [4] [8].
Những hiểu lầm thường gặp khi tập thở phục hồi phổi
Hiểu lầm phổ biến đầu tiên là chỉ cần tập một kiểu hít thở sâu vài ngày là phổi sẽ hồi phục hoàn toàn. Thực tế, phân tích gộp năm 2023 chỉ ra rằng chương trình phục hồi chức năng hô hấp đạt hiệu quả tốt nhất khi kết hợp tới 4 loại chương trình bài tập khác nhau, duy trì tần suất từ 3 lần mỗi tuần trở lên và kéo dài hơn 6 tuần [1]. Việc tập đơn lẻ hoặc ngắt quãng ngắn hạn khó mang lại sự thay đổi toàn diện trên các chỉ số dung tích phổi [1].
Hiểu lầm thứ hai là khi tập yoga, mọi chỉ số trên phiếu đo chức năng hô hấp đều sẽ tăng đồng đều. Nghiên cứu tại Ấn Độ năm 2025 và phân tích gộp năm 2023 đều cho thấy dù FEV1 và FVC tăng lên, nhưng tỷ lệ FEV1/FVC (chỉ số phản ánh tình trạng tắc nghẽn đường thở) lại không có sự thay đổi đáng kể (p = 0,6 trong nghiên cứu yoga) [1] [2]. Điều này có nghĩa là bài tập giúp tăng thể tích khí lưu thông đồng thời ở cả hai thông số FEV1 và FVC, chứ không làm thay đổi tỷ lệ phần trăm giữa chúng [1] [2].
Ai nên thận trọng khi áp dụng các bài tập phục hồi phổi?
Không phải mọi người bệnh hậu COVID-19 đều đáp ứng giống nhau với cùng một bài tập. Phân tích gộp năm 2023 nhấn mạnh rằng chương trình phục hồi chức năng hô hấp cho thấy hiệu quả rõ rệt ở những bệnh nhân không có bệnh lý nền đi kèm (comorbidities) [1]. Do đó, những người đang mắc sẵn các bệnh mạn tính về tim mạch, huyết áp, bệnh phổi tắc nghẽn hoặc tiểu đường cần hết sức thận trọng vì khả năng đáp ứng và sức chịu đựng của cơ thể sẽ khác biệt [1] [4].
Ngoài ra, những bệnh nhân từng phải nằm điều trị tại khoa hồi sức tích cực (ICU) hoặc có tổn thương đa cơ quan phức tạp sau COVID-19 không nên tự ý tập nặng ngay tại nhà [4] [8]. Với nhóm bệnh nhân nặng sau xuất viện ICU, các phương pháp chuyên biệt như nằm sấp (prone positioning) hoặc đạp xe kích thích điện chức năng (FES-cycling) và phục hồi sớm cần được thực hiện theo chỉ định và giám sát y tế để đảm bảo an toàn cho các chỉ số sinh tồn [8]. Người có triệu chứng khó thở kéo dài, đau ngực hoặc suy giảm chức năng phổi cần được bác sĩ chuyên khoa thăm khám, đo phế dung kế trước khi bắt đầu chương trình tập luyện [6] [2].
Cách áp dụng thực tế để cải thiện dung tích phổi hiệu quả
Để cải thiện chỉ số FEV1 và sức bền hô hấp sau COVID-19 một cách khoa học, người tập nên áp dụng nguyên tắc kết hợp đa dạng bài tập theo đúng thời lượng đã được nghiên cứu chứng minh:
- Lựa chọn hình thức tập luyện: Kết hợp chế độ tập yoga có chọn lọc (tập trung vào các kỹ thuật kiểm soát hơi thở và giãn nở lồng ngực) cùng các bài tập luyện cơ hít vào, bài tập aerobic liên tục (như đi bộ, đạp xe) và bài tập kháng lực/tăng sức mạnh cơ ngoại vi ở cường độ trung bình [4] [5] [2]. Có thể bổ sung các bài tập khí công hoặc kỹ thuật đi bộ kết hợp vặn mình và nâng tay để giảm cảm giác hụt hơi [8].
- Tần suất và tổng thời gian: Duy trì lịch tập tối thiểu từ 3 buổi mỗi tuần trở lên, kéo dài liên tục trên 6 tuần (tối ưu là từ 6 đến 8 tuần để thấy rõ sự thay đổi của chức năng phổi như trong các nghiên cứu) [1] [2]. Nếu tập chương trình kết hợp aerobic và kháng lực cường độ trung bình, có thể bắt đầu với tần suất 2 buổi mỗi tuần trong 12 đến 16 buổi [4] [5].
- Thời điểm bắt đầu: Đối với người từng nhập viện điều trị COVID-19, các nghiên cứu thực hiện đánh giá và cho bắt đầu tập ngoại trú ít nhất 15 ngày sau khi xuất viện, khi tình trạng lâm sàng đã ổn định [4] [7].
- Chăm sóc toàn diện: Bên cạnh việc tập thở, người tập nên duy trì chế độ dinh dưỡng cân bằng, uống đủ nước và ngủ đủ giấc để hệ cơ hô hấp có đủ năng lượng phục hồi.
Các bài tập yoga và phục hồi hô hấp là công cụ hỗ trợ đắc lực giúp lấy lại thể tích phổi và sức bền sau COVID-19, nhưng không thay thế cho việc điều trị y khoa [1] [2]. Người bệnh nên lắng nghe cơ thể, tăng dần cường độ và tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa hô hấp hoặc phục hồi chức năng nếu có bệnh nền hoặc triệu chứng bất thường.




