Mùa thi đến, nhiều phụ huynh thấy con ngồi học với đôi bàn tay đưa lên miệng cắn móng rướm máu, hoặc vừa giải đề vừa xoắn, giật từng sợi tóc rụng đầy bàn. Không ít người nghĩ đây chỉ là tật xấu vô thức hoặc sự thiếu tập trung khi học bài.

Thực tế, y học gọi cắn móng tay, giật tóc, cạy da hay cắn môi má là nhóm hành vi lặp lại tập trung vào cơ thể (viết tắt là BFRBs) [1]. Đây không đơn thuần là thói quen xấu mà là cơ chế tự đối phó khi cơ thể đối mặt với căng thẳng, có mối liên hệ chặt chẽ với tình trạng lo âu và áp lực từ các sự kiện trong đời sống học đường [2].

Vòng xoắn giải tỏa căng thẳng tạm thời

Các hành vi lặp lại tập trung vào cơ thể (BFRBs) là những hành động không có chức năng sinh học nhưng hướng vào việc tự làm tổn thương cơ thể, được xếp vào nhóm rối loạn ám ảnh cưỡng chế và các rối loạn liên quan [2]. Nhóm này bao gồm giật tóc (hội chứng trichotillomania), cạy da, cắn móng tay (onychophagia), cậy móng (onychotillomania), cắn môi hoặc cắn mặt trong má [2][3].

Tại sao học sinh lại thực hiện các hành vi tự gây đau này khi ôn thi? Về mặt tâm lý, các hành vi này hoạt động như một cơ chế đối phó khi gặp căng thẳng [2]. Trước khi thực hiện, người mắc thường có cảm giác thôi thúc mạnh mẽ, khó cưỡng lại được [2][4]. Ngay khi cắn móng tay hoặc giật tóc, họ cảm nhận được sự giải tỏa và đạt trạng thái dễ chịu tạm thời [2][4].

Chính cảm giác nhẹ nhõm ngắn ngủi này tạo ra sự củng cố tiêu cực, khiến não bộ ghi nhận hành vi như một cách xả áp lực, làm thói quen duy trì dai dẳng [2]. Ngoài ra, những người có hành vi cắn móng tay, nhai miệng hoặc cạy da cũng ghi nhận mức độ hoạt động thể chất tự cảm nhận cao hơn đáng kể so với người bình thường [5].

Nghiên cứu khoa học nói gì về mối liên hệ với lo âu?

Nhiều công trình nghiên cứu đã làm rõ mối liên hệ giữa áp lực tâm lý và nhóm hành vi này ở lứa tuổi đi học. Một nghiên cứu công bố năm 2020 trên học sinh và thanh thiếu niên đi học đã đánh giá mối liên hệ giữa BFRBs với lo âu và các sự kiện đời sống [2]. Nhóm nghiên cứu khảo sát 21 học sinh có hành vi BFRBs và so sánh với 21 học sinh khỏe mạnh tương đồng dùng làm nhóm đối chứng, sử dụng thang đo lo âu trạng thái - nét nhân cách cho trẻ em (STAIC) và thang đo sự kiện đời sống (LESIC) [2]. Kết quả cho thấy nhóm học sinh có BFRBs có điểm số cao hơn rõ rệt ở cả lo âu trạng thái (P = 0,004), lo âu nét nhân cách (P = 0,014) và tổng điểm lo âu (P = 0,020), đồng thời báo cáo mức độ căng thẳng cao hơn đáng kể ở 5 sự kiện đời sống [2].

Về mức độ phổ biến ở lứa tuổi thanh thiếu niên và sinh viên, một nghiên cứu công bố năm 2018 đã khảo sát tự báo cáo trong vòng một tháng trước đó trên mẫu lớn gồm 4.335 sinh viên đại học [1]. Kết quả ghi nhận có tới 59,55% sinh viên thỉnh thoảng thực hiện các hành vi BFRBs ở mức độ dưới ngưỡng bệnh lý, và 12,27% đáp ứng tiêu chuẩn của BFRBs mức độ bệnh lý [1]. Trong nhóm sinh viên này, cắn má là hành vi phổ biến nhất [1]. Cả hai mức độ dưới lâm sàng và bệnh lý đều có xu hướng mạn tính, kéo dài trên 1 năm [1].

Tại môi trường bệnh viện, một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu đơn trung tâm công bố năm 2022 đã theo dõi 67 bệnh nhân từ 9 đến 17 tuổi tại Thổ Nhĩ Kỳ đến khám vì cắn móng tay, cạy da hoặc giật tóc trong thời gian 3 tháng, đánh giá ở tuần thứ 4 và tuần thứ 8 [4]. Trong nhóm trẻ đi khám này, cắn móng tay là biểu hiện phổ biến nhất [4]. Ở hành vi cắn móng tay, trẻ có nhận thức chủ quan cao hơn, cảm giác thôi thúc trước hành vi và cảm giác giải tỏa sau hành vi đều cao hơn các dạng khác [4].

Một khảo sát trực tuyến khác năm 2018 trên 1.378 người trưởng thành trong cộng đồng (không phải bệnh nhân đang điều trị) cho thấy 318 người (chiếm 23%) có khả năng mắc BFRBs [6]. Cụ thể, tỷ lệ cạy da là 14% (187 người), cắn môi hoặc má là 6% (88 người), cắn móng tay là 6% (85 người) và giật tóc là 2% (39 người) [6]. Những người có hành vi này ghi nhận mức độ trầm cảm, lo âu, triệu chứng ám ảnh cưỡng chế, lo lắng về ngoại hình và nỗi sợ bị đánh giá tiêu cực cao hơn rõ rệt, kèm theo suy giảm chất lượng cuộc sống [6]. Một nghiên cứu sớm hơn vào năm 2002 cũng ghi nhận tỷ lệ đáp ứng tiêu chuẩn ít nhất một hành vi BFRB trong cộng đồng là 13,7%, với cắn móng tay là dạng phổ biến nhất [5].

Khi nào thói quen vượt ngưỡng bình thường?

Không phải mọi trường hợp cắn móng tay đều là bệnh lý tâm thần. Nghiên cứu trên 4.335 sinh viên chỉ ra gần 60% chỉ ở mức độ dưới lâm sàng (thỉnh thoảng mới làm), nhưng có hơn 12% chuyển sang dạng bệnh lý [1]. Hành vi trở nên đáng ngại khi gây ra sự đau khổ tinh thần và làm suy giảm chức năng hoạt động hàng ngày của trẻ [2].

Khi kéo dài ở mức độ nặng, các hành vi này gây tổn thương thực thể và tâm lý rõ rệt [7][2]. Về mặt thể chất, người cắn móng tay thường cắn nhiều móng trên các ngón tay và hoàn toàn nhận thức được việc mình làm [3]. Một dạng khác là biến dạng móng do thói quen (habit-tic nail deformity), xảy ra khi người mắc vô thức dùng ngón tay kế bên (thường là ngón trỏ) chà xát liên tục vào nếp gấp móng gần của ngón cái, tạo ra rãnh lõm dọc kéo dài suốt bản móng [3]. Trong khi đó, người cậy móng thường dùng móng tay khác hoặc dụng cụ để bóc, kéo hoặc cắt tỉa quá mức làm loạn dưỡng móng [3]. Các hành vi ở móng thường đi kèm với cạy da hoặc giật tóc cùng lúc [3].

Hiệu quả và giới hạn của các phương pháp can thiệp

Mặc dù gây nhiều phiền toái, việc điều trị dứt điểm nhóm rối loạn này ở trẻ em vẫn còn nhiều thách thức về mặt bằng chứng khoa học. Một nghiên cứu tổng quan công bố năm 2016 đã rà soát 60 nghiên cứu trên các cơ sở dữ liệu học thuật và chọn ra 23 nghiên cứu đủ tiêu chuẩn khắt khe để đánh giá các phương pháp điều trị tâm lý - xã hội cho trẻ em mắc rối loạn hành vi lặp lại tập trung vào cơ thể [7].

Kết quả đánh giá cho thấy chưa có bất kỳ phương pháp điều trị nào đạt tiêu chuẩn "được xác lập vững chắc" (well-established) cho mọi dạng BFRB ở trẻ em [7]. Liệu pháp hành vi cá nhân được chứng minh là "có khả năng hiệu quả cao" đối với tật mút ngón tay cái, "có thể hiệu quả" cho một số tình trạng khác, nhưng mới chỉ ở mức "thử nghiệm" đối với tật cắn móng tay [7]. Tương tự, liệu pháp nhận thức - hành vi (CBT) cá nhân và đa thành phần cũng được xếp vào nhóm "thử nghiệm" đối với chứng giật tóc và cắn móng tay [7].

Tuy nhiên, việc can thiệp vẫn mang lại giá trị tích cực cho cuộc sống của trẻ. Trong nghiên cứu năm 2022 trên 67 bệnh nhân từ 9 đến 17 tuổi, dù không có sự khác biệt đáng kể giữa các lựa chọn điều trị tự nhiên đối với thang điểm tâm thần, các trẻ được điều trị đã có sự cải thiện rõ rệt về mặt chức năng hoạt động hàng ngày sau 4 đến 8 tuần theo dõi [4].

Những hiểu lầm khiến phụ huynh dễ xử lý sai

Hiểu lầm phổ biến nhất là cho rằng trẻ hoàn toàn vô thức hoặc cố tình làm xấu mình. Thực tế, người cắn móng tay hay cậy móng thường nhận thức rõ hành vi của mình, đặc biệt trẻ cắn móng tay có mức độ nhận thức chủ quan rất cao [3][4]. Riêng trường hợp chà xát gây biến dạng rãnh móng ngón cái, người bệnh mới thường không nhận ra nguyên nhân do chính ngón tay mình tạo nên [3].

Hiểu lầm thứ hai là xem nhẹ vấn đề nên không tìm kiếm hỗ trợ. Nghiên cứu năm 2018 trên sinh viên cho thấy dù những người mắc BFRBs mức độ bệnh lý cảm thấy đau khổ vì hành vi của mình, rất ít người tìm kiếm sự trợ giúp y tế [1]. Báo cáo năm 2022 về 3 ca bệnh người lớn (gồm một phụ nữ 36 tuổi, hai nam giới 63 và 64 tuổi) cũng chỉ ra rằng tổn thương móng và cạy da không phải là lý do khiến họ đi khám, mà chỉ được bác sĩ phát hiện tình cờ khi khám da liễu [3].

Ai cần đặc biệt thận trọng?

Nhóm hành vi này thường khởi phát và đạt đỉnh điểm về mức độ nghiêm trọng trong thời thơ ấu và giai đoạn thanh thiếu niên [2]. Về giới tính, tình trạng này ảnh hưởng đến nữ giới nhiều hơn nam giới [2].

Phụ huynh cần đặc biệt lưu ý ở những học sinh có mức độ lo âu cao hoặc vừa trải qua các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống học đường và gia đình [2]. Những trẻ có biểu hiện cạy da cần được quan tâm sát sao, vì nghiên cứu năm 2018 trên 1.378 người cho thấy nhóm cạy da có mức độ lo lắng về hình ảnh cơ thể cao hơn và có xu hướng biểu hiện nhiều triệu chứng ám ảnh cưỡng chế cũng như lo âu cao hơn các dạng khác [6].

Ngoài ra, thanh thiếu niên và sinh viên có hành vi giật tóc, cạy da, cắn móng tay cần được theo dõi thêm về thói quen ăn uống. Một nghiên cứu năm 2022 khảo sát trên 191 sinh viên đại học cho thấy những người có hành vi giật tóc có nguy cơ gặp tình trạng ăn uống rối loạn ở mức độ đáng kể về mặt lâm sàng cao gấp 2 lần so với người không giật tóc (p = 0,022) [8]. Những sinh viên cảm thấy đau khổ vì việc giật tóc (p = 0,026), cạy da (p = 0,052) và cắn móng tay (p = 0,094) cũng có nguy cơ rối loạn ăn uống lâm sàng cao gấp đôi so với nhóm không cảm thấy đau khổ bởi các hành vi này [8].

Cách hỗ trợ học sinh giảm áp lực mùa thi

Vì BFRBs đóng vai trò như một cơ chế giải tỏa khi căng thẳng [2], việc quát mắng hay ép trẻ dừng lại ngay lập tức mà không giải quyết gốc rễ lo âu thường không mang lại kết quả. Thay vào đó, gia đình nên bắt đầu từ việc giảm tải áp lực học tập, sắp xếp thời gian biểu ôn thi hợp lý xen kẽ thời gian nghỉ ngơi, ăn uống cân bằng và ngủ đủ giấc.

Về mặt can thiệp chuyên môn, việc kiểm soát các hành vi liên quan đến móng và cơ thể có thể kết hợp các biện pháp không dùng thuốc (như dùng các phương tiện vật lý che chắn, điều chỉnh hành vi) và các liệu pháp tâm lý như liệu pháp hành vi cá nhân hoặc nhận thức - hành vi [7][3]. Cha mẹ có thể hướng dẫn trẻ nhận diện cơn thôi thúc trước khi đưa tay lên miệng hoặc lên tóc [4], từ đó chuyển hướng bàn tay sang các hoạt động vận động nhẹ nhàng khác không gây hại.

Nếu hành vi kéo dài trên 1 năm [1], gây tổn thương da, biến dạng móng, rụng tóc từng mảng hoặc đi kèm lo âu quá mức, rối loạn ăn uống [2][8][3], phụ huynh nên đưa trẻ đến khám tại các chuyên khoa tâm lý, tâm thần nhi hoặc da liễu. Các phương pháp tâm lý hay thuốc điều trị không thể tự ý áp dụng mà cần có sự thăm khám, tư vấn trực tiếp từ bác sĩ chuyên khoa, đặc biệt khi trẻ có sẵn các vấn đề sức khỏe tâm thần đi kèm.

Thói quen cắn móng tay hay giật tóc mùa thi là tín hiệu cho thấy hệ thần kinh của trẻ đang cần được giải tỏa khỏi sự quá tải lo âu [2]. Thay vì trách phạt, sự thấu hiểu, đồng hành giảm căng thẳng từ cha mẹ và thăm khám kịp thời sẽ giúp học sinh lấy lại sự cân bằng cả về thể chất lẫn tinh thần.