Đêm trực kéo dài khiến nhiều người lao động tìm đến đồ uống ngọt và thực phẩm nạp năng lượng nhanh để chống cơn buồn ngủ. Thói quen nạp đường, năng lượng cùng việc thức trắng đêm đặt ra câu hỏi lớn về sự an toàn cho hệ tim mạch.
Bản thân việc làm ca đêm đã là yếu tố nguy cơ độc lập gây bệnh tim mạch [1]. Khi kết hợp thức đêm với việc nạp đồ uống hoặc thức ăn giàu đường và năng lượng vào ban đêm, cơ thể bị ép phải phân giải chất dinh dưỡng trái nhịp sinh học, làm tăng đường huyết, mỡ máu sau ăn và đẩy huyết áp lên cao [1]. Đáng chú ý, các tài liệu nghiên cứu hiện có trong bài tập trung làm rõ tác hại của việc nạp năng lượng, đường vào ban đêm và sự rối loạn nhịp sinh học lên huyết áp, mỡ máu, chưa đi sâu phân tích riêng lẻ hoạt chất taurine hay caffeine.
Cơ chế tác động lên tim mạch khi thức và nạp năng lượng ban đêm
Cơ thể người vận hành theo nhịp sinh học nội sinh kéo dài 24 giờ [1]. Người làm ca đêm thức vào ban đêm và ngủ vào ban ngày sẽ bị lệch pha với nhịp sinh học tự nhiên này [1]. Sự lệch pha nhịp sinh học kết hợp với rối loạn giấc ngủ là cơ chế chính dẫn đến tình trạng tăng huyết áp ở người trực đêm [2].
Bình thường, huyết áp tuân theo nhịp ngày đêm với đặc điểm giảm xuống vào ban đêm và tăng lên vào ban ngày [3]. Những người có mức huyết áp trung bình giảm ít nhất 10% vào ban đêm được xếp vào nhóm "có trũng huyết áp" (dipper) [3]. Làm việc ca đêm làm thay đổi biến thiên huyết áp từ dạng "có trũng" sang "không có trũng" (non-dipper), tức là huyết áp không giảm hoặc giảm rất ít vào ban đêm [3]. Tình trạng mất trũng huyết áp ban đêm liên quan đến việc gia tăng tổn thương cơ quan đích gồm tim, não, thận, tăng tần suất biến cố tim mạch như đột quỵ, nhồi máu cơ tim và tăng tỷ lệ tử vong do tim mạch ở cả người huyết áp cao lẫn huyết áp bình thường [3].
Bên cạnh huyết áp, nồng độ lipid (mỡ) trong máu cũng biến thiên theo nhịp sinh học [3]. Việc nạp thức ăn hoặc đồ uống chứa năng lượng vào ban đêm buộc cơ thể phải hoạt động để phân giải và xử lý chất dinh dưỡng trong thời gian đáng lẽ được nghỉ ngơi [1]. Hệ quả chính của việc nạp năng lượng vào ban đêm là cơ thể giảm khả năng dung nạp glucose (đường) và lipid [4]. Quá trình này tạo ra nồng độ triacylglycerol (một dạng chất béo trung tính trong máu, còn gọi là triglyceride) cao hơn và các lipoprotein giàu cholesterol thấp hơn so với cùng lượng nạp đó vào ban ngày [3]. Sự rối loạn chuyển hóa lipid lặp đi lặp lại dẫn đến tình trạng mỡ máu cao kéo dài vào ban đêm, góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch [5].
Nghiên cứu khoa học nói gì về rối loạn chuyển hóa và huyết áp?
Nhiều nghiên cứu đã đo lường trực tiếp phản ứng của máu và huyết áp khi con người thức và nạp năng lượng vào ban đêm. Một nghiên cứu thực nghiệm công bố năm 2004 đã đánh giá tác động tích lũy của việc ăn uống liên tiếp trong ca đêm mô phỏng so với ca ngày [4]. Nghiên cứu sử dụng thiết kế bắt chéo ngẫu nhiên trên 8 nam giới khỏe mạnh, không béo phì, độ tuổi từ 20 đến 33, có chỉ số khối cơ thể (BMI) từ 20 đến 25 kg/m2 [4]. Những người tham gia tiêu thụ hai bữa chính và một bữa phụ với tổng năng lượng 2.500 kcal (gồm 40% chất béo, 50% carbohydrate/đường bột, 10% đạm) vào hai khung giờ: ca đêm (bữa chính lúc 01h00 và 07h00, bữa phụ lúc 04h00) và ca ngày (bữa chính lúc 13h00 và 19h00, bữa phụ lúc 16h00) [4]. Máu được lấy sau khi nhịn ăn qua đêm và theo dõi trong 8 giờ sau bữa đầu tiên để đo glucose, insulin, triacylglycerol và axit béo tự do [4]. Kết quả cho thấy nồng độ mỡ máu triacylglycerol trong ca đêm cao hơn có ý nghĩa thống kê so với ca ngày (p < 0,05) [4]. Đường huyết (glucose) cũng có xu hướng cao hơn vào ban đêm (p = 0,08) và có sự tương tác giữa thời gian với ca làm việc đối với nồng độ insulin (p < 0,01), trong khi axit béo tự do không bị ảnh hưởng [4].
Để đánh giá rộng hơn về mỡ máu, một tổng quan hệ thống năm 2019 đã rà soát 6 cơ sở dữ liệu y khoa với 4.423 bài báo, chọn ra 5 nghiên cứu có thiết kế bắt chéo đạt chuẩn để phân tích [5]. Các nghiên cứu này yêu cầu người tham gia nhịn ăn tối thiểu 5 giờ trước khi thử nghiệm, sau đó dùng bữa ăn hoặc đồ uống có thành phần dinh dưỡng và năng lượng giống hệt nhau giữa ban ngày (07h00 đến 16h00) và ban đêm (20h00 đến 04h00), rồi đo mỡ máu triacylglycerol trong ít nhất 5 giờ [5]. Cả 5 nghiên cứu đều phát hiện ít nhất một thông số phản ứng mỡ máu sau ăn bị thay đổi do thời điểm nạp năng lượng [5]. Cụ thể, 2 nghiên cứu ghi nhận tổng nồng độ mỡ máu vào ban đêm cao hơn ban ngày, 3 nghiên cứu không thấy sự khác biệt về tổng lượng, nhưng có tới 4 nghiên cứu báo cáo động học (diễn biến theo thời gian) của mỡ máu sau ăn vào ban đêm khác biệt so với ban ngày [5]. Giới hạn của tổng quan này là cách báo cáo dữ liệu ở các nghiên cứu gốc chưa đồng nhất, cần thêm thử nghiệm với cỡ mẫu lớn hơn [5].
Về phía huyết áp và nguy cơ tim mạch dài hạn, một nghiên cứu đoàn hệ kéo dài 8 năm trên nhân viên bệnh viện (công bố năm 2021) đã sử dụng dữ liệu đăng ký giờ làm việc liên tục và khám sức khỏe khách quan [2]. Nghiên cứu phát hiện số lượng ca trực đêm càng nhiều thì nguy cơ tăng huyết áp càng cao [2]. Những người làm tỷ lệ ca đêm cao có thể bị lệch nhịp sinh học ngay cả trong những ngày nghỉ, dẫn đến rối loạn nhịp sinh học nặng nề hơn [2]. Dù nghiên cứu này không tìm thấy mối liên hệ trực tiếp giữa số lượng ca đêm và hội chứng chuyển hóa (vốn phụ thuộc nhiều vào lối sống như chế độ ăn và vận động), các tác giả nhấn mạnh huyết áp phản ứng rất nhanh với căng thẳng cấp tính và việc tăng huyết áp giải thích một phần nguy cơ tim mạch ở người làm ca đêm lâu năm [2].
Một đánh giá tổng quan hệ thống quy mô lớn (umbrella review) năm 2022 đã phân tích 33 tổng quan hệ thống để định lượng rủi ro tim mạch ở người làm ca đêm [6]. Kết quả xác nhận làm việc ban đêm làm tăng khoảng 10% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường bất kể loại hình ca đêm [6]. Nguy cơ thừa cân tăng khoảng 25% ở người làm ca nói chung và lên tới 38% ở người chuyên làm ca đêm [6]. Nguy cơ béo phì tăng ước tính 5% ở người làm ca đêm cố định và 18% ở người làm ca xoay vòng [6]. Đặc biệt, nguy cơ tăng huyết áp tăng khoảng 30% khi tính gộp các định nghĩa làm ca có bao gồm ca đêm xoay vòng [6]. Đánh giá này cũng ghi nhận người làm ca có xu hướng hút thuốc nhiều hơn, trong khi bằng chứng về rối loạn mỡ máu còn chưa nhất quán và yếu tố ít vận động hay căng thẳng tâm lý xã hội ít được khảo sát sâu [6].
Bằng chứng về việc điều chỉnh giờ nạp năng lượng
Với những rủi ro trên, giới khoa học đang tìm cách can thiệp vào thời điểm ăn uống ban đêm. Một nghiên cứu thử nghiệm tại Úc công bố phác đồ năm 2018 được thiết kế để kiểm tra xem việc thay đổi giờ nạp năng lượng ban đêm có cải thiện mỡ máu và đường huyết sau ăn hay không [1]. Thử nghiệm bắt chéo ngẫu nhiên này thực hiện trên 20 người làm ca đêm bị béo phì vùng bụng, trải qua hai giai đoạn thử nghiệm kéo dài 4 tuần, cách nhau tối thiểu 2 tuần nghỉ [1]. Nghiên cứu so sánh việc phân bổ lại năng lượng, cụ thể là loại bỏ hoàn toàn việc nạp thức ăn trong khung giờ từ 01h00 đến 06h00 sáng, so với việc ăn uống tự do theo thói quen [1]. Dù đây là phác đồ tiền kết quả (mã đăng ký ACTRN12617000791336), thiết kế này cho thấy hướng tiếp cận y học hiện tại là nhắm vào việc ngừng nạp năng lượng lúc rạng sáng để bảo vệ tim mạch [1].
Một nghiên cứu khác thực hiện năm 1990 trên đoàn hệ 25 người trưởng thành khỏe mạnh, lấy máu mỗi 4 giờ trong suốt 24 giờ, cũng xác nhận sự biến thiên theo nhịp ngày đêm của tỷ lệ cholesterol tốt (HDL) trong tổng lượng biến thiên cholesterol liên quan đến làm việc theo ca [3].
Hiểu lầm thường gặp: Trực đêm nạp nhiều năng lượng hơn ban ngày?
Nhiều người cho rằng người trực đêm tăng cân, béo phì và mắc bệnh tim mạch là do họ ăn uống nhiều năng lượng (calo) hơn so với người làm giờ hành chính. Tuy nhiên, các dữ liệu phân tích gộp lại bác bỏ giả thuyết này.
Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp năm 2016 đã so sánh lượng năng lượng nạp vào trong 24 giờ giữa 4.726 người làm ca (có ca qua nửa đêm) và 10.367 người làm ca ngày cố định từ 12 nghiên cứu [7]. Kết quả cho thấy mức chênh lệch chuẩn hóa trung bình về năng lượng giữa hai nhóm là -0,04 (khoảng tin cậy 95% từ -0,11 đến 0,03; độ không đồng nhất I2 = 54%), tức không có sự khác biệt về tổng năng lượng nạp vào [7].
Tương tự, một tổng quan hệ thống khác năm 2019 đã sàng lọc 1.057 tóm tắt, đánh giá 68 bài toàn văn và chọn 15 nghiên cứu cắt ngang, bệnh chứng để so sánh ca đêm với các ca không phải ban đêm (ca sáng sớm, ca ngày, ca chiều tối, ca xoay vòng) [8]. Kết quả khẳng định không có sự khác biệt về tổng năng lượng nạp vào trong 24 giờ cũng như không có sự thiên lệch về nhóm chất dinh dưỡng đa lượng (đạm, đường, béo) ở người làm ca đêm [8].
Như vậy, việc người trực đêm tăng nguy cơ béo phì, tiểu đường và bệnh tim mạch không phải do họ nạp tổng lượng calo nhiều hơn trong 24 giờ, mà thủ phạm chính là sự lệch pha nhịp sinh học, thời điểm nạp năng lượng vào ban đêm, lựa chọn thực phẩm và sự thay đổi khả năng chuyển hóa năng lượng của cơ thể khi trời tối [7]. Khi uống nước ngọt, nước tăng lực giàu đường hay ăn vặt lúc nửa đêm, cùng một lượng calo đó sẽ gây hại cho mạch máu nhiều hơn so với dùng vào ban ngày [5].
Ai nên đặc biệt thận trọng?
Nhóm đầu tiên cần cảnh giác là những người làm ca đêm cố định dài hạn hoặc có tần suất trực đêm dày đặc. Một phân tích gộp chỉ ra rằng làm ca đêm cố định có liên quan đến mức huyết áp tăng cao hơn so với làm ca xoay vòng [2]. Tuy nhiên, người làm ca xoay vòng lại đối mặt với nguy cơ béo phì tăng tới 18% và nguy cơ tăng huyết áp tăng khoảng 30% [6].
Người đã có sẵn tình trạng béo phì vùng bụng, tiền tiểu đường hoặc rối loạn mỡ máu cần tránh nạp đường và chất béo vào ban đêm [1]. Ở những đối tượng này, khả năng dung nạp đường và mỡ vốn đã kém, khi cộng hưởng với tình trạng kháng insulin và tăng triglyceride sinh lý vào ban đêm sẽ đẩy nhanh quá trình xơ vữa động mạch [4].
Những người có huyết áp bình thường nhưng thuộc nhóm "mất trũng huyết áp ban đêm" khi đi trực cũng có nguy cơ tổn thương tim, não, thận và tử vong tim mạch cao hơn [3]. Người có thói quen hút thuốc lá trong ca trực cũng cần thận trọng vì làm ca đêm dễ thúc đẩy hành vi hút thuốc, nhân đôi gánh nặng lên thành mạch [6]. Nếu đang có bệnh nền tim mạch hoặc dùng thuốc điều trị huyết áp, tiểu đường, người lao động cần tham khảo ý kiến bác sĩ để điều chỉnh lịch sinh hoạt.
Cách áp dụng thực tế để bảo vệ tim mạch khi trực đêm
Để giảm thiểu gánh nặng chuyển hóa cho tim mạch trong ca trực đêm, nguyên tắc quan trọng nhất là kiểm soát thời điểm nạp năng lượng. Người trực đêm nên hạn chế tối đa việc ăn uống hoặc nạp đồ uống chứa năng lượng (như nước ngọt, nước tăng lực có đường, thức ăn nhanh) trong khoảng thời gian từ 00h00 đến 06h00 sáng, đặc biệt là khung giờ 01h00 đến 06h00 sáng [1]. Các thử nghiệm cho thấy nạp năng lượng trong khung giờ từ 00h00 đến 02h00 sáng hoặc rải rác lúc 01h00, 04h00 sáng làm suy giảm rõ rệt khả năng dung nạp đường và mỡ [4].
Thay vì dùng đồ uống nhiều đường để chống buồn ngủ giữa đêm, hãy ưu tiên uống nước lọc để giữ đủ nước cho cơ thể mà không kích hoạt quá trình tiêu hóa và tăng đường huyết ban đêm. Bữa ăn chính nên được bố trí trước khi vào ca đêm hoặc sau khi kết thúc khung giờ rạng sáng, kết hợp cân đối các nhóm chất và tăng cường vận động thể chất vào những ngày nghỉ để bù đắp lối sống tĩnh tại [2].
Cuối cùng, người thường xuyên trực đêm và có nguy cơ tim mạch cao nên chủ động thực hiện đo huyết áp lưu động 24 giờ (ambulatory blood pressure monitoring) theo khuyến nghị từ nghiên cứu bệnh viện [2]. Phương pháp này giúp phát hiện sớm tình trạng tăng huyết áp trong ca trực và hiện tượng mất trũng huyết áp ban đêm, từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời để giảm tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch [2].
Trực đêm là yêu cầu công việc khó tránh khỏi của nhiều ngành nghề, nhưng rủi ro tim mạch hoàn toàn có thể kiểm soát được nếu hiểu rõ nhịp sinh học. Ngừng nạp đồ uống chứa đường và thức ăn giàu năng lượng vào khung giờ rạng sáng, kết hợp theo dõi huyết áp định kỳ là chìa khóa bảo vệ trái tim bền bỉ. Khi có dấu hiệu bất thường về huyết áp hoặc đường huyết, hãy trao đổi trực tiếp với bác sĩ chuyên khoa.




