Dược liệuCá chép.
Cá chép
Cyprinus carpio L.
Tên gọi khác: Cá gáy
Cá chép có vị ngọt, tính bình, có tác dụng lợi niệu, hạ khí, tiêu thũng, an thai, thông sữa, giảm ho suyễn. Vảy cá tính bình, cầm máu.
Cách sử dụng trong đời sống
- Theo kinh nghiệm dân gian, thịt cá chép nấu với lá bìm bìm non, ăn hàng ngày chữa phù thũng ở trẻ nhỏ (cam thũng). Dùng đến khi đái được nhiều và thấy nhẹ mặt. Có thể dùng cá giếc hay cá quả thay thế. Cá chép (1 con) nấu với hoàng kỳ (60g) ăn trị bí đái. Người cao tuổi dùng rất tốt. Để chữa phù nề, vàng da ở phụ nữ có mang, lấy thịt cá chép (1 con) nấu thật nhừ với hạt đậu đỏ (100g) và trần bì (10g). Cá chép loại đuôi đỏ (600g) mổ bỏ ruột, nhồi vào bụng 20g phèn chua nghiền nhỏ, rồi bọc giấy, trát bùn, đem nướng chín; sau đó, bỏ bùn, gỡ lấy thịt cá, nấu cháo ăn hết trong một ngày lại chữa thũng trướng. Cháo gạo nếp nấu với một con cá chép và 1 lạng a giao, ăn trong 3 ngày làm thuốc an thai (Thầy thuốc ưu tú, lương y Lê Trần Đức). Cá chép (1 con) đánh vảy, bọc đất sét, nướng chín; bò đất, gỡ thịt cá nấu cháo ăn vào lúc đói ngày một lần, chữa viêm khí quản cấp tính (Tài liệu nước ngoài). Cá chép đốt tồn tính, tán bột mịn, uống mỗi lần 10g, ngày 2 lần, là thuốc thông sữa, bổ huyết. Phụ nữ còn thường truyền cho nhau kinh nghiệm dùng cá chép cỡ 300- 400g luộc ăn trong thời kỳ thai nghén khoảng 1-3 tháng để cho dễ đẻ và có những đứa con khoẻ mạnh, thông minh, da dẻ hồng hào. Mật cá chép (1 cái) phối hợp với gan gà trống (1 cái) nghiền nát, ngâm với 500 ml rượu trắng trong 5- 7 ngày, càng lâu càng tốt, thỉnh thoảng lắc đều. Ngày uống 2 lần mỗi lần 30 ml chữa liệt dương. Cũng với công dụng trên, có thể lấy mật cá chép (1 cái), trứng chim sẻ (1 quả) và mật gà trống (1 cái) làm viên u…
