Dược liệuCam
Đắng Cay
Zanthoxylum armatum DC.
Tên gọi khác: hoa tiêu, hoàng mộc, Thục tiêu
Tên tiếng Anh: Winged Prickly-Ash
phong thấp, đau răng, đau bụng kinh, giun đũa, cảm mạo, ho, hen do phong hàn, rắn cắn (Quả, rễ).
Cách sử dụng trong đời sống
- Hạt đắng cay được dùng chữa đau bụng, tiêu chảy. Lá đắng cay sắc đặc ngậm chữa sâu răng và nấu nước xông, rửa, chữa mề đay, phong hủi. Trong y học cổ truyền Ấn Độ, người ta dùng vỏ, quả và hạt đắng cay làm dễ tiêu, trị đầy hơi, và giun sán. Vỏ thân làm sạch răng. Quả và hạt chữa sốt và khó tiêu. Cao từ quả có tác dụng tẩy giun đũa. Do tính chất khử mùi, tẩy uế và sát trùng, quả được dùng trị bệnh về răng, làm thuốc bôi trị ghẻ, và chống ruồi trong nhà. Vỏ và nhiều bộ phận khác của cây làm bả cá và xua côn trùng. Quả khô cho một tinh dầu để sản xuất xà phòng và các chế phẩm về răng miệng. Để trị đái tháo đường, dùng bài thuốc gồm lá khô đắng cay 10g; vỏ xoài, vỏ vối rừng, vỏ Acacia nilotica, mỗi vị 40g. Sắc với 8 lít nước còn 2 lít, mỗi lần uống 50ml, ngày 2 lần sau bữa ăn. Ở Nepal, nhân dân dùng một bài thuốc chữa viêm xổ, chảy nước mũi, ho long đờm gồm quả đắng cay, thân rễ nghệ và gừng, mỗi vị 2g; vỏ quế, lá Allium hipsistum, muối, mỗi vị 1g. Tất cả sắc, xông miệng và mũi, và uống trước khi đi ngủ. Để chữa đau răng và chảy mủ lợi, lấy quả đắng cay lg, đun với 300ml nước và một ít muối còn 150ml ; dùng súc miệng trước khi đi ngủ một cách đều đặn. Rễ đắng cay, 25g đun với 100ml nước trong khoảng 20 phút, lọc và uống 3 thìa cà phê, ngày một lần, trong 3 ngày, để trị giun sán ở người. Rễ đắng cay, rễ chanh và muối, với lượng bằng nhau, nghiền nhỏ; cho uống mỗi lần 4-8 thìa cà phê (tuỳ theo thân trọng), ngày 2-3 lần, trong 2-3 ngày trị giun sán cho gia súc. Bài thuốc có đắng ca…
