Dược liệuMyristicaceae
Nhục đậu khấu
Myristica fragrans Houtt.
Tên gọi khác: Nhục quả
Tên tiếng Anh: Mace, Nutmeg, Nutmeg-Tree
Lỵ, ỉa chảy, đau dạ dày, đầy hơi, buồn nôn, suy mòn, sốt rét, thấp khớp, đau thần kinh tọa, bệnh phong giai đoạn đầu (Hạt tán bột). Dùng liều cao dễ bị ngộ độc.
Cách sử dụng trong đời sống
- Nhục đậu khấu được dùng trong y học cổ truyền và y học hiện đại, để chữa các bệnh đường tiêu hóa như kiết lỵ, tiêu chảy mất trương lực, đau bụng, đầy hơi, tiêu hóa kém, buồn nôn, nôn, suy mòn. Ở Ấn Độ, nhục đậu khấu còn được dùng để kích dục, gây sẩy thai. Dạng dùng thông thường là thuốc bột hoặc thuốc viên, ngày uống 0,25 – 0,50g, có thể đến 2g nếu bị tiêu chảy nặng. Dùng liều cao dễ bị ngộ độc, gây say. Nhục dậu khấu và bơ nhục đậu khấu được dùng xoa bóp ngoài chữa tê thấp mạn tính, đau người, đau dây thần kinh tọa. Áo hạt là thuốc bổ máu với liều dùng gấp dôi. Gỗ có tác dụng hạ sốt, bổ phổi và gan. Dầu bay hơi chiết từ nhục đậu khấu có trong thành phần của nhiều chế phẩm ghi trong được điển cùa nhiều nước như rượu thơm amoniac (Spiritus ammoniae aromaticus), rượu valerian amoniac (Tinctura valerianae ammoniata). Dầu này nhỏ vào miếng đường rồi uống có tác dụng kích thích và lợi trung tiện. Dầu nặng của nhục đậu khấu được dùng để tẩy giun, chế thuốc mỡ kích thích tóc mọc, thuốc uống nhuận tràng. Liều dùng của dầu là 1 – 3 giọt một lần.
