Nhiều người bệnh có thói quen dùng thảo dược bồi bổ khí huyết kéo dài mà quên thông báo cho bác sĩ trước ngày phẫu thuật. Trong số các vị thuốc quen thuộc, đan sâm (Salvia miltiorrhiza) thường được dùng rộng rãi để hỗ trợ tuần hoàn, dưỡng tâm và giảm đau ứ huyết. Tuy nhiên, nguy cơ chảy máu trong và sau mổ liên quan đến thảo dược này khiến nhiều người băn khoăn về thời điểm dừng an toàn.
Người bệnh nên trao đổi với bác sĩ để ngừng sử dụng đan sâm ít nhất từ 7 đến 14 ngày trước khi thực hiện phẫu thuật chương trình. Khoảng thời gian này giúp cơ thể đào thải hoạt chất và tạo điều kiện cho chức năng đông cầm máu hồi phục về trạng thái bình thường.
Tác động của đan sâm lên cơ chế đông máu
Đan sâm chứa các hoạt chất có khả năng ức chế ngưng tập tiểu cầu và cải thiện tuần hoàn vi mạch. Trong y học cổ truyền và dược lý hiện đại, dược liệu này phát huy hiệu quả hoạt huyết, ngừa cục máu đông tương tự các liệu pháp kháng tiểu cầu nhẹ. Khi mạch máu bị tổn thương, tiểu cầu đóng vai trò tạo nút chặn ban đầu để ngăn xuất huyết; việc dùng dược liệu có tính kháng tiểu cầu sẽ làm chậm tiến trình này.
Khi phẫu thuật, nguy cơ mất máu tăng lên nếu chức năng kết tập tiểu cầu bị suy giảm. Quá trình tạo cục máu đông sinh lý cần sự phối hợp giữa thành mạch, tiểu cầu và các yếu tố đông máu huyết tương. Dù đan sâm đem lại lợi ích tim mạch, tác động chống huyết khối lại trở thành mối nguy gây chảy máu khó kiểm soát trong các can thiệp ngoại khoa xâm lấn.
Thời gian ngưng dùng: Bài học từ các liệu pháp chống đông và kháng tiểu cầu
Khoảng thời gian ngưng sử dụng đan sâm được các chuyên gia ngoại khoa quy chiếu dựa trên thời gian sống của tiểu cầu và kinh nghiệm điều chỉnh thuốc chống đông, kháng tiểu cầu. Đời sống của tiểu cầu trong tuần hoàn kéo dài khoảng 7 đến 10 ngày. Khi một chất ức chế gắn vào tiểu cầu, cơ thể cần thời gian tương đương để sinh ra lứa tiểu cầu mới có đầy đủ chức năng cầm máu.
Hướng dẫn điều trị đối với các thuốc ức chế thụ thể P2Y12 khuyến cáo thời gian ngừng trước phẫu thuật bắc cầu động mạch vành không khẩn cấp là ít nhất 3 ngày đối với ticagrelor, 5 ngày đối với clopidogrel và 7 ngày đối với prasugrel để tiểu cầu hồi phục chức năng [1]. Do đan sâm là thảo dược có nồng độ hoạt chất thay đổi tùy nguồn gốc và cách bào chế, việc ngưng sớm từ 7 đến 14 ngày giúp đảm bảo an toàn tối đa.
Đối với các thuốc chống đông đường uống tác động trực tiếp (DOAC), nghiên cứu tiền cứu đa trung tâm RA-ACOD trên 899 bệnh nhân cho thấy việc đánh giá nguy cơ chảy máu rất chuẩn xác: nhóm phẫu thuật nguy cơ vừa/cao có tỷ lệ chảy máu trong mổ cao hơn nhóm nguy cơ thấp với tỷ số chênh OR là 4,7 [2]. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc kéo dài thời gian ngừng DOAC trước mổ có liên quan đến sự gia tăng các biến cố chảy máu nhẹ (p < 0,001), đặc biệt khi kết hợp liệu pháp bắc cầu (OR 4,3) [2]. Khi phân tích hồi quy đa biến, biến cố chảy máu lớn liên quan mật thiết với liệu pháp bắc cầu (OR 4,2) và phẫu thuật có nguy cơ chảy máu cao (OR 5,3), trong khi thời gian ngừng DOAC trên 6 ngày không làm tăng biến cố chảy máu lớn [2].
Bằng chứng lâm sàng về nguy cơ xuất huyết và can thiệp ngoại khoa
Nghiên cứu thuần tập quy mô toàn quốc năm 2018 theo dõi điều trị sỏi tiết niệu bằng đan sâm (Salvia miltiorrhiza) đã phân tích dữ liệu trên 8.568 bệnh nhân dùng đan sâm và 56.502 bệnh nhân không dùng [3]. Sau khi ghép cặp đối chứng 1:1 theo tuổi và giới tính (mỗi nhóm gồm 8.536 người, tuổi trung bình khoảng 46,4 tuổi), nhóm nghiên cứu đánh giá hai biến số đầu ra chính: các can thiệp phẫu thuật sỏi (như tán sỏi ngoài cơ thể, nội soi niệu quản, tán sỏi qua da) và các rối loạn chảy máu gồm xuất huyết tiêu hóa, xuất huyết nội sọ cùng nhu cầu truyền máu [3].
Dữ liệu lâm sàng chỉ ra rằng việc kiểm soát chảy máu quanh phẫu thuật luôn đòi hỏi sự cân nhắc đa diện. Nghiên cứu năm 2016 trên 307 bệnh nhân phẫu thuật ung thư tiêu hóa lớn đang dùng liệu pháp kháng tiểu cầu để dự phòng thứ phát cho thấy: nhóm ngừng toàn bộ thuốc kháng tiểu cầu (148 người) có tỷ lệ biến cố thuyên tắc huyết khối sau mổ 1 tháng là 6,2%, cao hơn hẳn mức 0% ở nhóm duy trì aspirin (159 người, p = 0,005) [4]. Ngược lại, tỷ lệ truyền máu (23,6% so với 17,0%, p = 0,146) và lượng máu truyền trung bình (4 đơn vị so với 4 đơn vị, p = 0,544) không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm [4].
Một tổng quan năm 2012 cũng nhấn mạnh việc ngừng aspirin trước phẫu thuật có thể gây hội chứng dội ngược tiểu cầu và trạng thái tăng đông, làm tăng biến cố tim mạch bất lợi [5]. Tuy nhiên, tổng quan cũng khẳng định có những phẫu thuật bắt buộc phải dừng các thuốc tác động đông máu vì hậu quả chảy máu quá nghiêm trọng, bao gồm mổ nội sọ, tai giữa, phía sau mắt, tủy sống và phẫu thuật cắt đốt tuyến tiền liệt qua ngả niệu đạo [5].
Một nghiên cứu hồi cứu năm 2016 tại Bệnh viện Nhân dân Đại học Bắc Kinh trên 222 bệnh nhân gãy xương vùng hông được phẫu thuật cho thấy thời điểm dùng thuốc chống đông ảnh hưởng trực tiếp đến biến chứng [6]. Trong số 133 bệnh nhân dùng heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH) trước phẫu thuật từ 1 đến 12 ngày (chia thành các nhóm 1-3 ngày, 4-6 ngày, 7-9 ngày và 10-12 ngày), có 2 bệnh nhân bị thuyên tắc phổi sau mổ (1,5%) và 1 bệnh nhân bị huyết khối tĩnh mạch sâu (0,75%) [6]. Điều này phản ánh rõ sự phức tạp trong việc tính toán thời gian ngưng hay duy trì can thiệp chống đông để cân bằng giữa nguy cơ chảy máu và huyết khối [6].
Các yếu tố ngoại khoa làm tăng nguy cơ mất máu và truyền máu
Quyết định thời điểm ngưng thảo dược hay thuốc kháng đông không thể tách rời yếu tố quy trình mổ. Nghiên cứu năm 2023 trên bệnh nhân viêm cột sống dính khớp thay khớp háng nhân tạo cho thấy thời gian phẫu thuật kéo dài là yếu tố nguy cơ độc lập: cứ mỗi 10 phút mổ kéo dài, nguy cơ phải truyền máu tăng thêm 13,9% [7]. Việc lượng máu mất trong mổ tăng và lượng dịch dẫn lưu sau mổ tăng cũng là những yếu tố nguy cơ dẫn đến truyền máu đồng loại [7].
Nghiên cứu này cũng chỉ ra việc sử dụng axit tranexamic (TXA) chu phẫu giúp giảm 83% nguy cơ truyền máu [7]. Đồng thời, mức hemoglobin trước mổ thấp là yếu tố nguy cơ có thể can thiệp được; ngưỡng nồng độ tối ưu để dự báo nhu cầu truyền máu là 12,5 g/dL ở nữ giới và 13,5 g/dL ở nam giới [7].
Bên cạnh đó, phân tích gộp năm 2025 trên 9 nghiên cứu với 41.458 bệnh nhân phẫu thuật trong ngày chỉ ra hàng loạt yếu tố nguy cơ gây trì hoãn xuất viện, trong đó đánh giá trước mổ không đầy đủ làm tăng nguy cơ trì hoãn với OR là 3,64 [8]. Các yếu tố khác bao gồm bệnh lý mạn tính đi kèm (OR 3,62), tiền sử bệnh tim mạch (OR 2,46), tuổi cao (chênh lệch trung bình MD 1,33), chỉ số khối cơ thể BMI (MD 0,69), thời gian mổ dự kiến (MD 0,18) và các thủ thuật phức tạp (OR 1,78) [8]. Do đó, việc giấu giếm hoặc quên khai báo thói quen dùng thảo dược như đan sâm chính là một thiếu sót trong đánh giá trước mổ, đe dọa an toàn người bệnh [8].
Hiểu lầm thường gặp về thảo dược tự nhiên
Sai lầm phổ biến nhất là quan niệm "thảo dược tự nhiên thì lành tính, không gây tác dụng phụ". Nhiều người cho rằng các vị thuốc nguồn gốc thực vật như đan sâm không chứa hóa chất tổng hợp nên có thể uống đến tận ngày lên bàn mổ. Trên thực tế, các hoạt chất sinh học tự nhiên vẫn tác động trực tiếp lên chuỗi phản ứng đông máu và chức năng tiểu cầu.
Một ngộ nhận khác là chỉ cần dừng đan sâm 1-2 ngày trước mổ là đủ. Các hoạt chất thực vật khi dùng lâu dài có thể tích lũy và cần nhiều ngày để thanh thải hoàn toàn. Việc dừng quá sát ngày mổ không đủ thời gian để tủy xương sản sinh đủ lượng tiểu cầu có chức năng bình thường thay thế, khiến người bệnh vẫn đối diện nguy cơ xuất huyết kéo dài.
Những ai cần đặc biệt thận trọng khi dùng đan sâm?
Bệnh nhân chuẩn bị bước vào các đại phẫu hoặc phẫu thuật ở những cơ quan nhạy cảm cần tuyệt đối cẩn trọng. Các can thiệp ngoại khoa thần kinh sọ não, tủy sống, phẫu thuật nhãn khoa buồng sau hoặc phẫu thuật tai giữa không cho phép xảy ra biến chứng chảy máu dù ở mức độ nhỏ [5]. Một lượng máu nhỏ rỉ ra ở các khoang hẹp này cũng đủ gây chèn ép mô thần kinh và để lại di chứng tàn phế vĩnh viễn [5].
Người có tiền sử bệnh lý tim mạch, người có bệnh mạn tính kèm theo hoặc đang sử dụng đồng thời các thuốc kháng đông, kháng tiểu cầu tổng hợp cũng là đối tượng nguy cơ cao [1, 7]. Việc kết hợp đan sâm với các thuốc Tây y có thể gây tương tác cộng gộp, làm tăng nguy cơ xuất huyết khó kiểm soát hoặc gây khó khăn cho bác sĩ gây mê hồi sức trong việc cân chỉnh phương án cầm máu chu phẫu [2].
Hướng dẫn chuẩn bị an toàn trước ngày phẫu thuật
Bước quan trọng hàng đầu là chủ động thông báo đầy đủ với bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ gây mê về tất cả các loại thuốc, thực phẩm chức năng và thảo dược đang dùng, bao gồm cả đan sâm [8]. Bệnh nhân cần mang theo vỏ hộp hoặc đơn thuốc y học cổ truyền để bác sĩ đánh giá chính xác thành phần và liều lượng.
Thông thường, mốc thời gian an toàn được khuyến cáo là ngừng đan sâm trước mổ từ 1 đến 2 tuần. Trong thời gian này, bệnh nhân cần tuân thủ chế độ dinh dưỡng cân bằng, uống đủ nước và theo dõi sát các dấu hiệu bất thường. Sau phẫu thuật, không nên tự ý dùng lại đan sâm ngay mà cần chờ vết mổ lành hẳn và có sự đồng ý của bác sĩ điều trị.
Việc chuẩn bị kỹ lưỡng trước phẫu thuật là yếu tố quyết định để ca mổ diễn ra an toàn và hạn chế tối đa biến chứng mất máu. Thảo dược dù mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe nhưng cần được sử dụng khoa học và có điểm dừng đúng lúc. Hãy luôn trao đổi minh bạch với đội ngũ y tế để nhận được chỉ định phù hợp nhất với thể trạng của bản thân.
