Làm việc tám tiếng mỗi ngày trước màn hình máy tính làm nhiều nhân viên văn phòng mỏi mắt, nhức đầu và khô rát mi mắt. Nhiều người thắc mắc nhìn máy tính bao lâu cần đi khám mắt định kỳ, và liệu chỉ đo độ cận ở tiệm kính có đủ bảo vệ thị lực lâu dài.
Các nghiên cứu nhãn khoa chưa ấn định một khoảng thời gian khám mắt cố định chung cho mọi người dùng máy tính. Tuy nhiên, dữ liệu y văn chỉ rõ nhóm dùng máy tính cường độ cao kèm tật khúc xạ (như cận thị) có nguy cơ xuất hiện bất thường thị trường và bệnh lý đáy mắt như glôcôm (cườm nước) cao hơn hẳn người bình thường [1]. Do đó, nhóm nguy cơ cao này cần khám mắt định kỳ nhiều vòng theo dõi, kết hợp cả đo khúc xạ lẫn kiểm tra thị trường và đáy mắt chuyên sâu thay vì đợi đến khi mờ mắt mới đi cắt kính [2].
Tác động của màn hình lên bề mặt nhãn cầu và cấu trúc đáy mắt
Nhìn màn hình điện tử đòi hỏi mắt làm việc căng thẳng hơn nhiều so với đọc sách giấy truyền thống [3]. Khi tập trung vào máy tính, tần suất chớp mắt giảm mạnh xuống chỉ còn khoảng 7 lần mỗi phút, trong khi mức bình thường là 22 lần mỗi phút [3]. Phản xạ chớp mắt thưa làm màng phim nước mắt bốc hơi nhanh, gây khô mắt và dẫn đến chứng mỏi mắt kỹ thuật số (asthenopia) với các biểu hiện đau quanh hốc mắt, nhức đầu, nóng rát hoặc ngứa bờ mi [4]. Tình trạng tật khúc xạ chưa được chỉnh kính hoặc chỉnh kính chưa đúng độ càng làm trầm trọng thêm các triệu chứng mỏi mắt này [4].
Không dừng lại ở bề mặt nhãn cầu, việc tiếp xúc máy tính cường độ cao trên nền mắt có sẵn tật khúc xạ (đặc biệt là cận thị) còn liên quan đến những tổn thương sâu ở đáy mắt [2]. Ở người cận thị, trục nhãn cầu dài ra tạo các lực cắt dọc theo trục mắt, có thể làm suy yếu cấu trúc đĩa thị giác (nơi dây thần kinh thị giác đi vào võng mạc) và gây rối loạn vi tuần hoàn máu nuôi dưỡng vùng này [2]. Sự biến dạng đĩa thị giác do cận thị kết hợp với thời gian dùng máy tính kéo dài có thể tương tác cộng hưởng, làm tăng nguy cơ tổn thương thị trường (vùng không gian mắt bao quát được) và dẫn đến bệnh glôcôm [2].
Bằng chứng khoa học về nguy cơ tổn thương mắt ở dân văn phòng
Mối liên hệ giữa thói quen dùng máy tính, tật khúc xạ và bệnh lý đáy mắt đã được khảo sát qua nhiều công trình quy mô lớn. Một nghiên cứu cắt ngang đa trung tâm công bố năm 2004 tại Nhật Bản đã sàng lọc 10.202 người lao động có độ tuổi trung bình là 43,2 (độ lệch chuẩn 9,8 tuổi) [1]. Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp đo thị trường công nghệ nhân đôi tần số (FDT-VFA) kết hợp khám sức khỏe tổng quát, khám nhãn khoa chuyên sâu và phỏng vấn thói quen dùng máy tính cũng như tình trạng khúc xạ [1]. Kết quả sàng lọc ghi nhận 522 người dương tính và 8.602 người âm tính với bất thường thị trường (FDT-VFA) [1]. Phân tích thống kê cho thấy có sự tương tác có ý nghĩa (p = 0,004) giữa việc dùng máy tính và tật khúc xạ đối với nguy cơ bất thường thị trường [1]. Cụ thể, người dùng máy tính nhiều kèm tật khúc xạ có nguy cơ gặp bất thường thị trường cao gấp 1,74 lần (tỷ số chênh OR = 1,74, khoảng tin cậy 95% từ 1,28 đến 2,37), trong khi người dùng máy tính nhiều nhưng không có tật khúc xạ lại không tăng nguy cơ này [1]. Khi đối chiếu 165 ca được chẩn đoán xác định mắc bệnh glôcôm với 2.918 người đối chứng, nhóm dùng máy tính nhiều có tật khúc xạ chịu nguy cơ mắc glôcôm cao gấp 1,82 lần (OR = 1,82, khoảng tin cậy 95% từ 1,06 đến 3,12) [1]. Đáng chú ý, trong 165 bệnh nhân glôcôm, có tới 141 người mang tật khúc xạ và cận thị chiếm tới 96,4% (136 trên 141 người) [1]. Giới hạn của nghiên cứu này là thiết kế cắt ngang nên chưa thể khẳng định trực tiếp quan hệ nhân quả tuyệt đối [1].
Để làm rõ hơn theo thời gian, một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu công bố năm 2018 tiếp tục theo dõi người lao động Nhật Bản dùng máy tính nhiều qua nhiều vòng kiểm tra thị trường định kỳ [2]. Trong số 61 người dùng máy tính nhiều có kèm tật khúc xạ và phát hiện bất thường thị trường, nhóm nghiên cứu thu thập được hồ sơ chẩn đoán bệnh viện của 41 người [2]. Kết quả khám chuyên sâu tại bệnh viện cho thấy 26 người (63,4%) mắc bệnh glôcôm, 4 người (9,7%) tăng nhãn áp, 4 người (9,7%) cận thị nặng, 2 người (4,9%) bong võng mạc, 2 người (4,9%) mắc bệnh mắt khác và chỉ có 3 người (7,3%) bình thường [2]. Công trình này xác nhận người dùng máy tính cường độ cao có tật khúc xạ tăng đáng kể tỷ lệ mới mắc bất thường thị trường, và glôcôm là bệnh lý đáy mắt phổ biến nhất được phát hiện qua các đợt sàng lọc định kỳ [2].
Về triệu chứng cơ năng và hội chứng thị giác màn hình, một nghiên cứu mô tả cắt ngang năm 2020 thực hiện trên 70 người dùng máy tính đến khám tại khoa mắt một bệnh viện tuyến cuối (tuổi trung bình là 25, với 64 bệnh nhân nằm trong độ tuổi 20 đến 30) [3]. Kết quả cho thấy 95,7% người tham gia xuất hiện ít nhất một triệu chứng bất thường chỉ sau khi dùng máy tính liên tục hơn một giờ [3]. Trong các y văn được nhóm tác giả dẫn lại, tỷ lệ hiện mắc hội chứng thị giác màn hình dao động từ 46,3% đến 89,9% [3]. Triệu chứng phổ biến nhất ở nhóm bệnh nhân khảo sát là đau đầu (62,2%), tiếp đến là khô mắt cùng đau cổ, vai (51,4%) và đau lưng (51,4%) [3]. Kiểm tra lâm sàng bằng nghiệm pháp Schirmer ghi nhận 25,7% bị khô mắt và 32,9% có thời gian vỡ phim nước mắt thấp, chứng tỏ khô mắt do bốc hơi nước mắt rất phổ biến ở người làm việc máy tính lâu dài [3]. Dù 75,7% người tham gia biết về tác hại của việc dùng máy tính lâu và 64% có nghỉ giải lao thường xuyên, tỷ lệ gặp triệu chứng vẫn ở mức rất cao [3].
Đối với vai trò của việc đo và chỉnh khúc xạ, một tổng quan hệ thống công bố năm 2018 đã phân tích dữ liệu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) và bán ngẫu nhiên nhằm đánh giá hiệu quả của việc đeo kính ở người dùng máy tính [4]. Tổng quan ghi nhận tỷ lệ mỏi mắt (asthenopia) trong hoặc sau khi làm việc máy tính dao động từ 46,3% đến 68,5% [4]. Nhóm tác giả gộp 8 nghiên cứu với tổng cộng 381 người tham gia (gồm 3 nghiên cứu RCT nhóm song song, 3 nghiên cứu RCT bắt chéo và 2 thử nghiệm bán ngẫu nhiên bắt chéo) [4]. Toàn bộ 8 nghiên cứu đều đánh giá hiệu quả của kính gọng (trong đó 7 nghiên cứu khảo sát kính chuyên dụng cho máy tính có ít nhất một vùng tiêu cự phù hợp với khoảng cách màn hình), không có nghiên cứu nào đánh giá kính áp tròng hay phẫu thuật khúc xạ [4]. Nghiên cứu chỉ rõ tật khúc xạ không được chỉnh hoặc chỉnh thiếu độ là yếu tố góp phần gây mỏi mắt và suy giảm thị lực ở dân văn phòng [4].
Tầm quan trọng của quy trình khám khúc xạ và đáy mắt chuẩn y khoa
Khám mắt định kỳ không đơn thuần là đọc bảng chữ cái để lấy số đo kính. Một nghiên cứu năm 2021 trên 420 nam sinh viên đại học (độ tuổi từ 18 đến 30) mô tả quy trình khám sàng lọc tiêu chuẩn bao gồm: đo thị lực bằng bảng Snellen ở khoảng cách 6 mét trong phòng đủ sáng và kiểm tra mức độ cải thiện thị lực qua kính lỗ ở những người nhìn mờ [5]. Những trường hợp phát hiện giảm thị lực được chuyển đến phòng khám chuyên khoa mắt để bác sĩ đo khúc xạ tự động, thử kính thực tế và soi bóng đồng tử (retinoscopy) có hoặc không kèm nhỏ thuốc liệt điều tiết khi cần thiết [5]. Trong y khoa, tật khúc xạ được xác định khi độ cận hoặc độ viễn từ +- 0,50 đi-ốp (D) trở lên, hoặc độ loạn thị từ 0,50 D trở lên, còn suy giảm thị lực được tính khi thị lực từ 6/12 trở xuống [5].
Tại một nghiên cứu mô tả cắt ngang khác công bố năm 2018 trên sinh viên y khoa, cận thị là tật khúc xạ chiếm tỷ lệ cao nhất với 87 người (53,7%), tiếp theo là viễn thị với 6 người (3,7%), loạn thị 2 người (1,2%) và 67 người (41,3%) mắt chính thị [6]. Trong nhóm 87 người cận thị, cận thị nhẹ chiếm 58 người (66,7%), cận thị trung bình 22 người (25,3%) và cận thị nặng chiếm 7 người (8,0%) [6]. Nghiên cứu này nhấn mạnh các chương trình sàng lọc thị lực định kỳ là phương pháp thiết yếu để phát hiện sớm các bất thường khúc xạ có thể điều trị được [6].
Những hiểu lầm thường gặp về chăm sóc mắt khi dùng máy tính
Hiểu lầm phổ biến đầu tiên là chỉ cần biết tác hại của màn hình và thỉnh thoảng nghỉ giải lao là mắt sẽ hoàn toàn khỏe mạnh. Thực tế nghiên cứu năm 2020 cho thấy dù 75,7% người dùng máy tính nhận thức được tác hại và 64% đã chủ động nghỉ giải lao, vẫn có tới 95,7% xuất hiện triệu chứng sau hơn một giờ làm việc liên tục, và gần một phần ba bị rối loạn màng phim nước mắt thực thể trên xét nghiệm lâm sàng [3].
Hiểu lầm thứ hai là mắt nhìn mờ hay mỏi khi làm việc máy tính chỉ do tăng độ cận thông thường. Dữ liệu theo dõi người lao động Nhật Bản năm 2018 chỉ ra rằng trong số những người dùng máy tính nhiều có tật khúc xạ kèm bất thường thị trường được bệnh viện chẩn đoán, có tới 63,4% thực chất mắc bệnh glôcôm, 9,7% tăng nhãn áp và 4,9% bị bong võng mạc [2]. Các bệnh lý đáy mắt và thần kinh thị giác này diễn tiến âm thầm, thu hẹp tầm nhìn chu biên trước khi làm mất thị lực trung tâm, nên việc tự đi cắt kính mà bỏ qua khám đáy mắt và đo thị trường sẽ làm lỡ cơ hội phát hiện bệnh sớm [2].
Ai thuộc nhóm nguy cơ cao cần thận trọng đặc biệt?
Nhóm đầu tiên và quan trọng nhất cần khám mắt chuyên sâu định kỳ là nhân viên văn phòng sử dụng máy tính cường độ cao có sẵn tật khúc xạ, đặc biệt là người bị cận thị [1]. Số liệu khoa học chứng minh sự kết hợp giữa cận thị và thời gian nhìn máy tính kéo dài làm tăng nguy cơ tổn thương thị trường lên 1,74 lần và nguy cơ mắc bệnh glôcôm lên 1,82 lần [1]. Đặc biệt, những người cận thị nặng hoặc có biến dạng đĩa thị giác bẩm sinh cần được bác sĩ nhãn khoa theo dõi sát qua nhiều đợt đo thị trường vì nguy cơ bong võng mạc và tổn thương thần kinh thị giác rất hiện hữu [2].
Nhóm thứ hai là những người thường xuyên dùng máy tính liên tục trên một giờ mỗi ngày và bắt đầu có các triệu chứng như đau đầu, khô rát mắt, mỏi mắt hoặc nhìn mờ [3]. Ngoài ra, những người đang đeo kính nhưng cảm thấy mỏi mắt trong hoặc sau giờ làm việc cũng cần đi kiểm tra lại ngay, bởi tật khúc xạ chỉnh chưa đúng độ là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy chứng mỏi mắt kỹ thuật số [4]. Những người có bệnh nền về mắt, tiền sử tăng nhãn áp hoặc đang dùng thuốc điều trị bệnh toàn thân cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa mắt để có lịch hẹn tái khám phù hợp với tình trạng bệnh lý riêng.
Gợi ý áp dụng thực tế khi đi khám và bảo vệ mắt hàng ngày
Khi đi khám mắt định kỳ, dân văn phòng không nên chỉ dừng lại ở bước đo khúc xạ tự động để cắt kính. Nếu thuộc nhóm dùng máy tính nhiều kèm cận thị, bạn nên chủ động đề nghị bác sĩ thực hiện gói khám nhãn khoa toàn diện bao gồm: đo thị lực tiêu chuẩn, kiểm tra lại độ kính chính xác, soi đáy mắt đánh giá đĩa thị giác và võng mạc, đo nhãn áp và đo thị trường (như kỹ thuật FDT) qua các đợt kiểm tra định kỳ hàng năm hoặc theo lịch hẹn của bác sĩ [1]. Khi chọn kính làm việc, người có tật khúc xạ có thể trao đổi với bác sĩ về loại kính chuyên dụng có vùng tiêu cự thiết kế riêng cho khoảng cách màn hình máy tính để giảm gánh nặng điều tiết cho mắt [4].
Trong quá trình làm việc hàng ngày, do triệu chứng mỏi mắt và khô mắt thường khởi phát sau khi nhìn màn hình liên tục quá một giờ, người lao động nên chủ động ngắt quãng thời gian nhìn gần trước mốc một giờ này [3]. Hãy tập thói quen chớp mắt chủ động và đầy đủ để bù đắp lại sự sụt giảm tần suất chớp mắt tự nhiên (từ 22 lần xuống 7 lần mỗi phút), giúp hạn chế tình trạng bốc hơi nước mắt [3]. Bên cạnh đó, duy trì chế độ sinh hoạt lành mạnh, uống đủ nước, điều chỉnh ánh sáng phòng làm việc hợp lý và giữ tư thế ngồi chuẩn sẽ góp phần giảm bớt các cơn đau đầu, đau mỏi cổ vai gáy đi kèm hội chứng thị giác màn hình.
Nhìn chung, thói quen làm việc máy tính cường độ cao kết hợp với tật khúc xạ cận thị tạo ra gánh nặng kép lên cả bề mặt nhãn cầu lẫn cấu trúc thần kinh đáy mắt [2]. Thay vì chỉ đo độ cận khi thấy nhìn mờ, dân văn phòng nên duy trì lịch khám nhãn khoa định kỳ toàn diện để vừa chỉnh kính đúng độ, vừa tầm soát sớm các bệnh lý nguy hiểm như glôcôm hay bong võng mạc [2]. Khi xuất hiện các triệu chứng đau mắt, nhức đầu kéo dài hoặc có bệnh nền nhãn khoa, người bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để được bác sĩ thăm khám trực tiếp, tuyệt đối không tự ý mua thuốc nhỏ mắt điều trị tại nhà.




