Nỗi ám ảnh vóc dáng tuổi mới lớn
Bước vào giai đoạn dậy thì, nhiều trẻ bắt đầu để ý sâu sắc đến hình thể. Một lời chê bai vô tình từ bạn bè hay hình ảnh người mẫu thon thả trên mạng xã hội có thể khiến trẻ nảy sinh tâm lý tự ti. Nhiều phụ huynh ban đầu chỉ nghĩ con đang học đòi làm đẹp hoặc ăn kiêng giữ dáng đơn thuần.
Tuy nhiên, ranh giới giữa việc kiểm soát cân nặng lành mạnh và bệnh lý chán ăn tâm thần (Anorexia Nervosa) rất mong manh. Khi hành vi nhịn ăn biến thành nỗi ám ảnh cưỡng chế, sức khỏe thể chất và tâm thần của trẻ đang bị đe dọa nghiêm trọng.
Dấu hiệu sớm cảnh báo chán ăn tâm thần
Dấu hiệu cảnh báo sớm bao gồm sự ngưng trệ tăng cân bình thường của tuổi dậy thì, tập luyện thể thao quá mức, thu mình cô lập xã hội và nỗi sợ hãi tột độ về việc tăng cân [1]. Trẻ thường bộc lộ sự bất mãn gay gắt về cơ thể cùng khát khao gầy gò mãnh liệt [2].
Bên cạnh đó, việc trẻ đột ngột bận tâm quá mức về thành tích học tập cũng là một dấu hiệu cảnh báo đi kèm cần lưu ý [1]. Ở trẻ gái đã dậy thì, tình trạng mất kinh nguyên phát hoặc thứ phát thường xuất hiện song hành cùng việc sụt cân [3].
Cơ chế tác động phức tạp từ não bộ đến thể chất
Chán ăn tâm thần không đơn thuần là thói quen kén ăn mà là một rối loạn tâm thần phức tạp. Yếu tố di truyền trong gia đình, các con đường dẫn truyền thần kinh và cấu trúc hình thái thần kinh đóng vai trò quan trọng trong sự khởi phát bệnh [4].
Thêm vào đó, mối tương tác hai chiều phức tạp giữa hệ trục não - ruột và hệ vi sinh vật đường ruột cũng được xác định là một yếu tố nguy cơ phát triển bệnh [4]. Nỗi sợ hãi sự trưởng thành cùng biến đổi cơ thể ở lứa tuổi trước 14 tuổi góp phần thúc đẩy hành vi từ chối thức ăn [3]. Tình trạng tự bỏ đói kéo dài dẫn đến suy dinh dưỡng, mất nước, rối loạn điện giải và tổn hại nghiêm trọng đến sự phát triển chiều cao [5], [1].
Bằng chứng khoa học về gánh nặng bệnh tật
Nhiều công trình nghiên cứu đã phân tích sâu về đặc điểm và mức độ nguy hiểm của rối loạn này:
Một tổng quan phạm vi do Nhóm Nghiên cứu Vị thành niên thuộc Hội Nhi khoa Ý thực hiện năm 2024 đã sàng lọc 657 công trình và đưa vào phân tích 52 nghiên cứu trong 4 năm gần nhất [4]. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc rối loạn ăn uống, đặc biệt là chán ăn tâm thần ở trẻ em, gia tăng mạnh trong những năm gần đây [4]. Nghiên cứu chỉ ra việc nhận diện kịp thời các dấu hiệu cảnh báo và bệnh lý đồng mắc như đau bụng chức năng mạn tính có liên quan mật thiết đến tỷ lệ hồi phục cao hơn [4].
Một nghiên cứu theo dõi tiến cứu năm 1987 trên 35 học viên múa ba lê từ 2 đến 4 năm cho thấy có đến 25,7% đối tượng mắc chán ăn tâm thần và 14,2% mắc chứng ăn vô độ hoặc hội chứng bán phần [2]. Thang đo "khát khao gầy gò" và "bất mãn cơ thể" là hai chỉ số duy nhất dự báo sự phát triển của rối loạn ăn uống trong tương lai [2]. Đáng chú ý, quan điểm cho rằng tình trạng này chỉ là sự thích nghi vô hại với văn hóa ba lê đã bị bác bỏ khi các triệu chứng rối loạn ăn uống nghiêm trọng vẫn tiếp tục dai dẳng [2].
Một nghiên cứu năm 1995 thực hiện trên 250 bệnh nhân nữ nội trú liên tiếp tại một đơn vị rối loạn ăn uống đã so sánh các biến số tâm lý [3]. Kết quả ghi nhận bệnh nhân khởi phát chán ăn tâm thần trước 14 tuổi và bị mất kinh nguyên phát có mức độ sợ hãi sự trưởng thành cao nhất [3]. Nhóm trẻ từ 17 đến 19 tuổi mắc thể chán ăn hạn chế có mức độ khát khao gầy gò cao nhất so với nhóm 13-16 tuổi và người trưởng thành [3]. Bệnh nhân dưới 14 tuổi mắc thể hạn chế có mức độ trầm cảm và lo âu thấp nhất [3].
Nghiên cứu tổng quan năm 2023 nhấn mạnh đại dịch COVID-19 toàn cầu đã góp phần làm tăng tỷ lệ mắc rối loạn ăn uống, đặc biệt là ở thanh thiếu niên [6]. Chán ăn tâm thần và thể chán ăn tâm thần không điển hình là những bệnh lý nghiêm trọng, có khả năng đe dọa tính mạng [6].
Một nghiên cứu hồi cứu và theo dõi dọc trong 26 năm (công bố năm 1989) trên 27 trẻ chán ăn tâm thần, so sánh với 23 trẻ rối loạn cảm xúc né tránh thức ăn và 22 trẻ rối loạn cảm xúc thông thường [5]. Nghiên cứu phát hiện tình trạng tự bỏ đói khởi phát sớm có thể để lại hậu quả lùn thể chất [5]. Trẻ có chiều cao tốt tại thời điểm khởi phát lại có tiên lượng kém hơn, đồng thời tỷ lệ bé trai mắc bệnh khởi phát sớm cao hơn dự kiến nhưng tiên lượng ở trẻ nam lại khả quan hơn trẻ nữ [5].
Một báo cáo năm 1984 ước tính chán ăn tâm thần có thể xảy ra ở 1 trên 200 trẻ gái vị thành niên da trắng, trong khi chứng ăn vô độ phổ biến hơn ở nhóm thanh thiếu niên lớn tuổi và phụ nữ trẻ [1]. Cả hai rối loạn này đều rất hiếm gặp ở nam giới [1].
Nghiên cứu khảo sát năm 1997 tại Áo thông qua phiếu câu hỏi đưa cho các bác sĩ tham dự một đại hội y khoa quốc gia cho thấy một thực tế đáng lo ngại [7]. Khi đưa ra hai tình huống lâm sàng giả định về trẻ em bị chán ăn tâm thần kèm sụt cân, chỉ có 3,8% bác sĩ nghĩ đến chán ăn tâm thần là chẩn đoán ban đầu và 11,4% nghi ngờ nguyên nhân tâm thần/tâm thể [7]. Điều này phản ánh nhận thức y khoa ban đầu về bệnh lý này còn hạn chế, dẫn đến việc chuyển tuyến can thiệp tâm thần bị chậm trễ [7].
Hiểu lầm thường gặp về chán ăn tâm thần
Nhiều người lầm tưởng chán ăn tâm thần chỉ là thói làm nũng hoặc đua đòi nhất thời của con trẻ. Thực tế, đây là bệnh lý tâm thần thực sự với căn nguyên từ thần kinh, di truyền và vi sinh đường ruột chứ không đơn thuần do ý muốn chủ quan [4].
Một hiểu lầm phổ biến khác là bệnh nhân chán ăn luôn luôn phải có thể trạng gầy trơ xương. Tỷ lệ cao mắc chán ăn tâm thần không điển hình cho thấy bệnh nhân vẫn có thể có cân nặng bình thường hoặc thậm chí thừa cân nhưng hành vi ăn uống bị rối loạn trầm trọng [6]. Sự kỳ thị cân nặng thường khiến nhóm đối tượng này bị bỏ sót [6].
Nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng
Trẻ em trong độ tuổi dậy thì tham gia các bộ môn đòi hỏi kiểm soát vóc dáng khắt khe như múa ba lê có nguy cơ mắc bệnh rất cao [2].
Những trẻ có tiền sử gia đình từng mắc bệnh, trẻ có bệnh lý tự miễn hoặc đau bụng chức năng mạn tính cần được theo dõi sát sao [4]. Trẻ có xu hướng cầu toàn, quá lo lắng về điểm số học tập hoặc có biểu hiện thu mình xã hội cũng là nhóm nguy cơ cao [1].
Hành động thực tế cho phụ huynh và nhà trường
Khi nhận thấy trẻ có các dấu hiệu nguy cơ, phụ huynh cần chủ động đưa trẻ đến cơ sở y tế để được thăm khám tổng thể. Đánh giá phát triển thể chất thông qua các thông số nhân trắc học, kết hợp khai thác tiền sử gia đình và tâm lý là công cụ sàng lọc thiết yếu [4].
Phác đồ điều trị cốt lõi bao gồm phục hồi dinh dưỡng kết hợp liệu pháp tâm lý, chủ yếu là liệu pháp dựa trên gia đình, trong khi điều trị bằng thuốc đóng vai trò thứ yếu [6]. Trẻ dưới 14 tuổi bị bệnh cấp tính có thể không cần dùng thuốc điều trị trầm cảm hay lo âu mà cần tập trung giải tỏa nỗi sợ trưởng thành qua tâm lý trị liệu [3].
Chán ăn tâm thần tuổi dậy thì là bệnh lý phức tạp nhưng hoàn toàn có thể phục hồi nếu được phát hiện sớm. Gia đình cần lắng nghe, đồng hành và đưa trẻ đến gặp bác sĩ chuyên khoa kịp thời thay vì phán xét hay ép buộc trẻ ăn uống tiêu cực.



