Nhiều người mắc bệnh tim mạch muốn bỏ thuốc lá nhưng lại e ngại dùng miếng dán hay kẹo cao su nicotine vì sợ chất này làm tim đập nhanh, tăng huyết áp. Nỗi lo này khiến không ít bệnh nhân chần chừ cai thuốc, hoặc tự ý chịu đựng cơn vật thuốc mà không dám dùng biện pháp hỗ trợ.

Thực tế, liệu pháp thay thế nicotine (NRT) an toàn cho phần lớn người có bệnh lý tim mạch ổn định [1]. Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy NRT không làm tăng nguy cơ biến cố tim mạch nghiêm trọng so với giả dược, cũng không làm tăng huyết áp hay nhịp tim trung bình ở người bệnh tuân thủ điều trị [2], [3], [4]. Rủi ro từ NRT là rất nhỏ và lợi ích của việc bỏ thuốc lá vượt xa nguy cơ từ việc dùng thuốc hỗ trợ [2], [5].

Vì sao người bệnh tim e ngại nicotine y tế?

Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ tim mạch có thể đảo ngược quan trọng nhất [3]. Tuy nhiên, thống kê cho thấy vẫn có tới 20% bệnh nhân mắc bệnh tim mạch tiếp tục hút thuốc [2]. Việc cai thuốc lá giúp giảm mạnh nguy cơ tương đối gặp các biến cố tim mạch trong tương lai, đồng thời giảm đáng kể nguy cơ tử vong ở bệnh nhân mọi lứa tuổi [2], [3].

Liệu pháp thay thế nicotine (NRT) là phương pháp hỗ trợ đã được chứng minh giúp tăng khả năng cai thuốc thành công [6]. Hiện có 5 dạng NRT phổ biến gồm miếng dán, kẹo cao su, viên ngậm, thuốc xịt mũi và ống hít, trong đó 3 dạng đầu được bán không cần kê đơn [1]. Dù vậy, một số báo cáo đơn lẻ về tác dụng phụ ở người dùng NRT đã làm dấy lên nghi ngại về độ an toàn cho tim mạch [6].

Nỗi băn khoăn chủ yếu xoay quanh tác động huyết động (sự thay đổi dòng máu, huyết áp và nhịp tim) tiềm ẩn của nicotine [2]. Về mặt sinh học, nicotine có thể góp phần gây bệnh tim mạch thông qua việc kích thích hệ thần kinh giao cảm và giải phóng chất catecholamine toàn thân, dẫn đến các hệ quả về huyết động [5]. Điều này khiến cả người bệnh lẫn nhân viên y tế đặt câu hỏi liệu dùng nicotine y tế có gây hại tương tự như hút thuốc lá hay không [6].

Khác biệt lớn giữa nicotine y tế và khói thuốc lá

Để đánh giá độ an toàn của NRT, cần phân biệt rõ nicotine y tế tinh khiết và khói thuốc lá điếu. Trong khói thuốc lá có rất nhiều độc chất gây hại cho tim mạch ngoài nicotine [5]. Một khác biệt cốt lõi là hút thuốc lá làm tăng độ đông máu — yếu tố nguy cơ chính gây ra các biến cố tim mạch cấp tính (như tắc mạch), trong khi miếng dán nicotine qua da không gây ra hiện tượng này [5].

Thứ hai là sự khác biệt về liều lượng và tốc độ hấp thu vào máu. Lượng nicotine nạp vào cơ thể do hút thuốc lá thường xuyên nhìn chung vượt quá liều lượng cung cấp bởi các sản phẩm NRT [5]. Khi hút thuốc, nicotine đi vào máu rất nhanh nên tạo ra tác động tim mạch mạnh và dồn dập hơn nhiều so với tốc độ giải phóng chậm rãi của miếng dán qua da hoặc kẹo cao su nicotine [5].

Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa liều lượng nicotine và phản ứng tim mạch có dạng "đường cong phẳng" (tức là khi đạt đến một ngưỡng nhất định, tăng thêm nicotine cũng không làm tăng tương ứng tác động lên tim mạch) [5]. Do đặc tính này, ngay cả khi một người vừa dùng NRT vừa lỡ hút thuốc lá, tác động lên hệ tim mạch cũng chỉ tương đương với việc hút thuốc lá đơn thuần chứ không bị cộng dồn gấp đôi nguy hiểm [5]. Nhìn chung, ở mức tệ nhất, rủi ro của NRT không bao giờ vượt quá rủi ro của việc hút thuốc lá [5].

Nghiên cứu thực tế về huyết áp và biến cố tim mạch

Nhiều công trình khoa học đã trực tiếp kiểm tra tác động của NRT lên huyết áp, nhịp tim và tỷ lệ nhập viện ở bệnh nhân tim mạch.

Một nghiên cứu công bố năm 2016 đã đánh giá tác động của thuốc cai thuốc lá trong điều kiện thực tế tại một bệnh viện tim mạch từ tháng 1/2008 đến tháng 3/2014 [3]. Nhóm nghiên cứu phân tích dữ liệu của 900 bệnh nhân tuân thủ điều trị (50,5% là nam giới, tuổi trung bình 53 ± 17) [3]. Các chẩn đoán phổ biến nhất ở nhóm này là tăng huyết áp (57,2%), bệnh mạch vành (25,2%) và đái tháo đường (13,4%) [3]. Trong đó, 271 người dùng NRT đơn độc, 81 người dùng bupropion, 154 người dùng varenicline, 283 người kết hợp NRT với bupropion và 111 người kết hợp bupropion với varenicline [3].

Các bệnh nhân được đo huyết áp, nhịp tim và nồng độ khí carbon monoxide (CO) trong hơi thở qua trung bình 3 lần thăm khám trong 45 ngày đầu điều trị [3]. Kết quả cho thấy ở tất cả các nhóm dùng thuốc đơn lẻ hay kết hợp, hoàn toàn không có sự gia tăng giá trị trung bình của huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương cũng như nhịp tim, đồng thời nồng độ khí độc CO giảm đáng kể [3].

Về nguy cơ biến cố tim mạch nặng, một tổng quan công bố năm 2015 đã dẫn lại phân tích gộp từ 21 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng với giả dược (công bố đầu năm 2014) trên tổng số 11.647 bệnh nhân [4]. Trong số này có 828 bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ biến cố tim mạch cao và 187 bệnh nhân mắc rối loạn mạch vành cấp [4]. Kết quả chỉ ra NRT có liên quan đến tăng nguy cơ rối loạn nhịp nhẹ, đặc biệt là đánh trống ngực (vốn cũng là tác dụng phụ đã biết của việc hút thuốc) [4]. Tuy nhiên, ở nhóm nguy cơ tim mạch cao, tỷ lệ gặp biến cố tim mạch nghiêm trọng là 1,2%, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm dùng giả dược [4].

Các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng khác thử nghiệm miếng dán nicotine trên bệnh nhân có bệnh mạch vành ổn định cũng xác nhận sản phẩm không làm tăng nguy cơ biến cố tim so với giả dược [2], [5].

So sánh NRT với các thuốc cai thuốc lá kê đơn

Ngoài NRT, bác sĩ có thể kê đơn hai loại thuốc uống cai thuốc là bupropion và varenicline [1]. Các nghiên cứu quần thể quy mô lớn gần đây đã đặt NRT lên bàn cân cùng hai loại thuốc này để đánh giá độ an toàn tương đối.

Một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu dựa trên dân số tại bang New South Wales (Úc) công bố năm 2021 đã phân tích dữ liệu kê đơn, nhập viện và tử vong từ năm 2008 đến 2015 [7]. Nghiên cứu chia thành các cặp so sánh lớn: 342.064 người bắt đầu dùng varenicline so với 10.457 người dùng bupropion; 122.932 người dùng varenicline so với 92.148 người dùng miếng dán NRT; và 102.817 người dùng miếng dán NRT so với 6.056 người dùng bupropion [7]. Kết quả không tìm thấy sự khác biệt về nguy cơ gặp các biến cố tim mạch bất lợi nghiêm trọng giữa việc dùng varenicline và miếng dán NRT, trong khi các phép so sánh với bupropion chưa đưa ra được kết luận rõ ràng [7].

Một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu khác tại Mỹ công bố năm 2020 đã phân tích dữ liệu hành chính từ năm 2006 đến 2016 trên 618.497 người trưởng thành (từ 18 tuổi trở lên) không có chẩn đoán hoặc điều trị trầm cảm trong 12 tháng trước đó [8]. Khi so sánh với nhóm dùng NRT (32.237 người), nhóm dùng varenicline (454.698 người) có nguy cơ nhập viện vì biến cố tim mạch trong 1 năm thấp hơn 20% (tỷ số nguy cơ hiệu chỉnh RR = 0,80), và nhóm dùng bupropion (131.562 người) có nguy cơ tim mạch 1 năm thấp hơn 25% (RR = 0,75) [8]. Về mặt tâm thần kinh, varenicline có nguy cơ nhập viện thấp hơn 35% so với NRT (RR = 0,65), trong khi bupropion làm tăng 21% nguy cơ nhập viện tâm thần kinh so với NRT (RR = 1,21) [8].

Tuy nhiên, các tài liệu y khoa lưu ý rằng varenicline và bupropion cũng có các tác dụng phụ nghiêm trọng riêng và ít được đánh giá sâu rộng trên nhóm bệnh nhân nguy cơ tim mạch cao như NRT [4]. Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) từng phát thông báo an toàn rằng varenicline có thể liên quan đến sự gia tăng nhỏ nguy cơ một số biến cố tim mạch (như nhồi máu cơ tim không tử vong) ở người có bệnh tim mạch [1]. Do tác dụng phụ của NRT đã được ghi nhận rõ ràng hơn và hiếm khi gây rối loạn tim nghiêm trọng, nicotine y tế vẫn được xem là lựa chọn hợp lý trong thực hành lâm sàng khi cần thuốc hỗ trợ cai thuốc [4].

Ai nên thận trọng khi dùng nicotine thay thế?

Dù NRT không phải là yếu tố nguy cơ độc lập gây biến cố tim và an toàn cho đa số người có bệnh tim mạch ổn định, dữ liệu về độ an toàn của liệu pháp này ngay sau hội chứng mạch vành cấp vẫn còn hạn chế [1].

Theo hướng dẫn trên tờ thông tin thuốc của FDA, các sản phẩm thay thế nicotine cần được "sử dụng thận trọng" ở một số bệnh nhân tim mạch đặc thù, bao gồm:

Hướng dẫn của Trường Môn Tim mạch Mỹ và Hiệp hội Tim mạch Mỹ (ACC/AHA) về quản lý bệnh nhân nhồi máu cơ tim có ST chênh lên (STEMI) cũng không khuyến cáo sử dụng NRT thường quy trong thời gian nằm viện, nhưng cho phép dùng ở một số bệnh nhân được lựa chọn khi xuất viện [1]. Khi bác sĩ cân nhắc dùng NRT cho nhóm bệnh nhân vừa trải qua hội chứng mạch vành cấp, rủi ro chưa rõ của NRT tại thời điểm nhập viện phải được đặt lên bàn cân với nguy cơ cao đã biết nếu bệnh nhân tiếp tục hút thuốc lá [1].

Cách áp dụng an toàn và hiệu quả

Mọi hướng dẫn lâm sàng hiện nay đều đồng thuận rằng bất kỳ nguy cơ tiềm ẩn nào từ thuốc cai thuốc lá đều nhỏ hơn rất nhiều so với lợi ích của việc bỏ thuốc, do đó thuốc hỗ trợ nên được cung cấp cho những ai muốn cai thuốc [7].

Để sử dụng NRT an toàn cho tim mạch, người bệnh cần lưu ý các nguyên tắc thực tế sau:

  • Tham khảo ý kiến bác sĩ: Người hút thuốc có bệnh lý tim mạch được khuyến cáo tìm kiếm sự tư vấn của bác sĩ trước khi bắt đầu dùng các sản phẩm nicotine mua tự do tại nhà thuốc [5].
  • Nguyên tắc liều lượng: Tác động lên tim của nicotine đòi hỏi sự thận trọng; người dùng nên tìm liều thấp nhất có hiệu quả kiểm soát cơn thèm và mục tiêu cuối cùng phải là ngưng hoàn toàn nicotine [4].
  • Theo dõi triệu chứng: Nhận biết trước khả năng xuất hiện cảm giác đánh trống ngực để trao đổi với bác sĩ điều chỉnh liều khi cần thiết [4].
  • Kết hợp tư vấn hành vi: Điều trị đầu tay luôn bao gồm các liệu pháp hành vi song song với việc dùng thuốc để đạt hiệu quả cai thuốc lâu dài [1].

Tóm lại, người có tiền sử bệnh tim mạch ổn định không nên vì sợ tác dụng phụ lên huyết áp hay nhịp tim mà từ chối liệu pháp thay thế nicotine. Nicotine y tế giải phóng chậm, không làm đông máu như khói thuốc điếu và không làm tăng huyết áp trung bình khi tuân thủ điều trị. Nếu đang có bệnh nền tim mạch, đặc biệt là vừa trải qua biến cố mạch vành cấp tính, hãy trao đổi trực tiếp với bác sĩ chuyên khoa để chọn dạng sản phẩm và liều lượng phù hợp nhất.