Khi phát hiện huyết áp cao, phản xạ đầu tiên của hầu hết mọi người là cắt giảm muối trong từng bữa ăn. Thế nhưng nhiều người dù đã cố gắng ăn nhạt hơn vẫn thấy chỉ số huyết áp dao động thất thường, làm dấy lên thắc mắc liệu chỉ kiêng mặn đã đủ hay chưa.

Câu trả lời ngắn gọn từ các dữ liệu khoa học là chưa đủ. Bên cạnh việc hạn chế natri (thành phần chính trong muối ăn), việc tăng cường kali để đưa tỷ lệ natri trên kali về ngưỡng cân bằng mới là chìa khóa đối trọng hiệu quả giúp kiểm soát huyết áp [1]. Thậm chí, các tổng quan hệ thống từ thử nghiệm lâm sàng cho thấy tỷ lệ natri/kali có mối liên hệ chặt chẽ với kết quả huyết áp ở người trưởng thành bị tăng huyết áp hơn là khi chỉ xét riêng lẻ từng chất [2].

Thế đối trọng giữa natri và kali trong mạch máu

Trong cơ thể người trưởng thành không mang thai, lượng natri nạp vào có liên quan thuận chiều với huyết áp, nghĩa là ăn càng nhiều natri thì huyết áp càng có xu hướng tăng [3]. Ngược lại, kali có mối liên hệ nghịch chiều, giúp kéo chỉ số huyết áp xuống khi được bổ sung đầy đủ [3]. Khi xét chung hai khoáng chất này, tỷ lệ natri/kali có mối tương quan tuyến tính thuận với mức huyết áp [3].

Các nhà khoa học từ lâu đã quan tâm đến vai trò của việc điều chỉnh lượng natri hoặc kali đối với hệ thống renin-angiotensin (hệ thống hormone điều hòa huyết áp và cân bằng dịch), độ cứng của động mạch và tình trạng rối loạn chức năng nội mô (lớp lót bên trong mạch máu) [2]. Đây là những mắt xích quan trọng quyết định sức khỏe lòng mạch và áp lực dòng máu.

Một nghiên cứu công bố năm 1986 đã khảo sát cân bằng kali trên 431 người huyết áp bình thường và 478 người tăng huyết áp thông qua việc truyền dịch muối sinh lý để làm tăng thể tích nội mạch, sau đó dùng thuốc lợi tiểu kết hợp chế độ ăn ít muối để giảm natri và thể tích dịch [4]. Kết quả ở nhóm tăng huyết áp cho thấy mối tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ kali trong máu và mức huyết áp [4]. Phân tích hồi quy đa biến trong nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng việc bài tiết kali qua nước tiểu chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như tuổi tác, chủng tộc, giới tính, cân nặng, huyết áp, độ thanh thải creatinine (chỉ số phản ánh chức năng lọc của thận), cùng hai hormone là renin và aldosterone [4].

Tác động độc lập của từng khoáng chất lên huyết áp

Nhiều người băn khoăn việc tăng kali có phụ thuộc vào mức muối đang ăn hay không. Một nghiên cứu công bố năm 2002 đã phân tích dữ liệu nhớ lại chế độ ăn trong 24 giờ và xét nghiệm nước tiểu 24 giờ lặp lại trên 873 người cao tuổi bị tăng huyết áp trong một thử nghiệm lâm sàng can thiệp lối sống kéo dài 3 năm [5].

Kết quả cho thấy việc giảm tương đối lượng natri và tăng lượng kali đều có mối liên hệ theo cấp độ với khả năng kiểm soát huyết áp không dùng thuốc tốt hơn [5]. Cụ thể, sau khi hiệu chỉnh sai số đo lường, việc giảm 100 mmol natri mỗi 24 giờ gắn liền với khả năng duy trì kiểm soát huyết áp không dùng thuốc cao gấp 2,93 lần trong suốt quá trình theo dõi [5]. Song song đó, mỗi mức tăng 50 mmol kali trong 24 giờ giúp tăng khả năng kiểm soát huyết áp không dùng thuốc lên gấp 2,00 lần [5].

Điểm đáng chú ý là hai mối liên hệ này hoàn toàn độc lập với nhau và độc lập với mức tiêu thụ ban đầu của người bệnh [5]. Ngoài ra, việc kiểm soát huyết áp gắn liền mạnh mẽ nhất với lượng natri ở những người có huyết áp tâm thu (số trên) thấp hơn và thời gian mắc tăng huyết áp dài hơn [5]. Ngược lại, kali lại thể hiện mối liên hệ rõ nét nhất ở những người có huyết áp tâm trương (số dưới) tăng cao [5].

Bằng chứng từ các thử nghiệm bổ sung kali

Hiệu quả hạ áp thực tế của kali đã được lượng hóa rõ ràng qua một phân tích gộp công bố năm 2015 [1]. Nghiên cứu này tổng hợp dữ liệu từ 15 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng về việc bổ sung kali trên tổng cộng 917 bệnh nhân (gồm cả người huyết áp bình thường và tăng huyết áp) không sử dụng thuốc hạ huyết áp [1].

Kết quả chung trên toàn bộ bệnh nhân cho thấy bổ sung kali giúp giảm 4,7 mmHg huyết áp tâm thu và 3,5 mmHg huyết áp tâm trương [1]. Khi xét riêng ở nhóm người bệnh tăng huyết áp, mức giảm còn ấn tượng hơn: huyết áp tâm thu giảm tới 6,8 mmHg và huyết áp tâm trương giảm 4,6 mmHg [1].

Phân tích sâu hơn chỉ ra rằng cả việc tăng đào thải kali qua nước tiểu hằng ngày và việc giảm tỷ lệ natri/kali đều liên quan có ý nghĩa thống kê với mức giảm huyết áp [1]. Để đạt được hiệu quả hạ áp ước tính này, lượng bài tiết kali qua nước tiểu hằng ngày cần tăng từ mức 60 lên 100 mmol/ngày, đi kèm với sự sụt giảm của tỷ lệ natri/kali [1]. Nhóm nghiên cứu kết luận người có huyết áp cao sẽ nhận được lợi ích khi tăng lượng kali nạp vào kết hợp với kiểm soát hoặc giảm lượng natri [1].

Tỷ lệ natri/kali qua các khảo sát dân số lớn

Không chỉ trong các thử nghiệm can thiệp, sức nặng của tỷ lệ natri/kali còn được chứng minh qua nhiều khảo sát dân số quy mô lớn. Một tổng quan hệ thống công bố năm 2014 đánh giá các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng và nghiên cứu quan sát đã khẳng định: ở người trưởng thành bị tăng huyết áp, tỷ lệ natri/kali là thước đo ưu việt hơn và liên quan chặt chẽ với kết quả huyết áp cũng như tỷ lệ mới mắc tăng huyết áp hơn là chỉ xét riêng natri hay kali [2].

Trước đó, một nghiên cứu quần thể năm 1988 trên 584 nam giới và 718 phụ nữ từ 30 đến 79 tuổi tại Nam California (Mỹ) bằng phương pháp nhớ lại chế độ ăn 24 giờ cũng ghi nhận kết quả tương tự [6]. Ở cả hai giới, huyết áp tâm trương sau khi hiệu chỉnh theo tuổi có tương quan nghịch với lượng kali ăn vào, còn cả huyết áp tâm thu và tâm trương đều tương quan chặt với tỷ lệ natri/kali trong khẩu phần hơn là từng chất riêng lẻ [6]. Đáng lưu ý, ở nam giới có sự phân hóa rõ rệt theo tuổi: tuổi càng cao thì độ nhạy cảm của huyết áp với tỷ lệ natri/kali trong thức ăn càng lớn [6]. Các mối liên hệ này không thay đổi khi hiệu chỉnh theo calo, đạm, bột đường, chất béo bão hòa, rượu, canxi và chất xơ, dù việc hiệu chỉnh theo chỉ số khối cơ thể (BMI) có làm giảm độ mạnh của mối liên hệ ở nữ giới [6].

Một nghiên cứu công bố năm 2013 phân tích dữ liệu tại Mỹ cũng cho biết mỗi một đơn vị tăng lên của tỷ lệ natri/kali kéo theo mức tăng huyết áp tâm thu là 2,1 mmHg, rất gần với con số tăng 2,2 mmHg và 2,8 mmHg ở hai nghiên cứu sử dụng dữ liệu nhớ lại chế độ ăn 24 giờ trước đó [7]. Dù một trong hai nghiên cứu trước chỉ tìm thấy mối liên hệ ở nhóm tiêu thụ dưới 400 mg canxi/ngày, phân tích độ nhạy của nghiên cứu năm 2013 xác nhận mức độ liên hệ không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm ăn dưới 400 mg, từ 400-800 mg hay trên 800 mg canxi mỗi ngày [7]. Ngoài ra, dữ liệu từ nghiên cứu InterSalt và Nghiên cứu Tim mạch Dallas sử dụng chỉ số bài tiết natri/kali qua nước tiểu 24 giờ cũng khẳng định tỷ lệ này liên quan thuận chiều với huyết áp sau khi đã hiệu chỉnh hàng loạt yếu tố như tuổi, giới tính, BMI, tiểu đường, mức lọc cầu thận ước tính [7].

Tại châu Á, một nghiên cứu cắt ngang công bố năm 2015 dựa trên Khảo sát Khám Sức khỏe và Dinh dưỡng Quốc gia Hàn Quốc giai đoạn 2007-2012 đã phân tích 24.096 người trưởng thành từ 19 tuổi trở lên chưa từng dùng thuốc hạ huyết áp [8]. Kết quả cho thấy cứ mỗi 1 mg/kcal natri tăng thêm làm huyết áp tâm trương tăng 0,21 mmHg; ngược lại, mỗi 1 mg/kcal kali tăng thêm giúp huyết áp tâm thu giảm 1,01 mmHg [8]. Khi chia người tham gia thành 4 nhóm và lấy nhóm "natri thấp/kali cao" làm chuẩn, nhóm ăn "natri cao/kali thấp" có nguy cơ bị huyết áp cao (từ 140/90 mmHg trở lên) gấp 1,21 lần [8].

Những hiểu lầm thường gặp về ăn nhạt và bổ sung kali

Hiểu lầm phổ biến nhất là "chỉ cần ăn nhạt tuyệt đối là an toàn, không cần quan tâm đến rau củ giàu kali". Dữ liệu từ nghiên cứu trên 24.096 người Hàn Quốc đã bác bỏ quan điểm này [8]. Kết quả chỉ ra rằng ngay cả nhóm ăn "natri thấp/kali thấp" vẫn có nguy cơ mắc huyết áp cao gấp 1,19 lần so với nhóm ăn "natri thấp/kali cao" [8]. Bất ngờ hơn, nguy cơ huyết áp cao ở nhóm ăn "natri cao/kali cao" lại không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm chuẩn "natri thấp/kali cao" [8]. Điều này cho thấy việc thiếu hụt kali tự thân nó đã làm tăng nguy cơ cao huyết áp, và bù đủ kali đóng vai trò bảo vệ vô cùng quan trọng [8].

Hiểu lầm thứ hai là áp dụng máy móc quy tắc này cho mọi đối tượng ở mọi giai đoạn sinh lý. Chẳng hạn, một nghiên cứu cắt ngang công bố năm 2020 trên 984 phụ nữ mang thai có huyết áp bình thường (độ tuổi trung bình 27,6) tại Mỹ đã ghi nhận huyết áp hầu như không thay đổi giữa các nhóm tiêu thụ natri từ thấp nhất đến cao nhất (dao động quanh mức 106/59 đến 108/60 mmHg) [3]. Cả lượng natri, kali lẫn tỷ lệ natri/kali đều không liên quan đến huyết áp tâm thu hay tâm trương ở nhóm này, cho thấy huyết áp trong thai kỳ bình thường có thể không nhạy cảm với natri và kali từ chế độ ăn [3]. Thêm vào đó, tổng quan hệ thống năm 2014 cũng lưu ý rằng ở những người có huyết áp bình thường và trẻ em, việc tỷ lệ natri/kali có ưu việt hơn từng chất riêng lẻ hay không vẫn chưa rõ ràng và cần thêm nghiên cứu [2].

Ai nên thận trọng khi tăng cường kali?

Dù kali mang lại lợi ích rõ rệt, không phải ai cũng có thể tự ý bổ sung khoáng chất này với lượng lớn. Như nghiên cứu năm 1986 đã chỉ ra, khả năng đào thải kali qua nước tiểu phụ thuộc trực tiếp vào độ thanh thải creatinine (chức năng thận) cũng như các hormone renin và aldosterone [4].

Do đó, những người có bệnh lý nền, đặc biệt là bệnh thận mạn tính hoặc người đang sử dụng các loại thuốc điều trị huyết áp, thuốc lợi tiểu hay thuốc tác động lên hệ hormone cần hết sức thận trọng. Các thử nghiệm bổ sung kali trong phân tích gộp năm 2015 cũng chỉ thực hiện trên những bệnh nhân không dùng thuốc hạ huyết áp [1]. Vì vậy, người đang dùng thuốc theo đơn hoặc có bệnh nền tuyệt đối không tự ý uống viên bổ sung kali mà phải tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị để tránh nguy cơ rối loạn điện giải.

Áp dụng thực tế vào mâm cơm hằng ngày

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Hướng dẫn Chế độ ăn uống cho người Mỹ, tỷ lệ natri/kali lý tưởng nên ở mức nhỏ hơn hoặc bằng 1 [7]. Một mô hình thực tế rất dễ áp dụng là chế độ ăn DASH (Phương pháp ăn uống giúp ngăn ngừa tăng huyết áp) [7].

Trong chế độ ăn DASH với mức năng lượng 2.100 kcal mỗi ngày, mục tiêu tiêu thụ được thiết lập cụ thể là 3.000 mg natri và 4.700 mg kali, tương ứng với tỷ lệ natri/kali ở mức 0,6 [7]. Để đạt được con số này, thực đơn hằng ngày cần giàu các loại trái cây, rau xanh chứa nhiều kali và các sản phẩm từ sữa ít béo [7]. Chế độ ăn DASH đã được chứng minh có hiệu quả làm giảm mức huyết áp ở cả người trưởng thành không bị tăng huyết áp và người bị tăng huyết áp tâm thu đơn độc độ 1 [7].

Trong sinh hoạt hằng ngày, bên cạnh việc giảm nêm nếm muối, nước mắm hay hạn chế thực phẩm chế biến sẵn để cắt giảm natri, người dân nên chủ động đưa thêm rau củ quả tươi vào mọi bữa ăn chính và bữa phụ [1]. Việc ưu tiên thực phẩm tự nhiên giàu kali kết hợp uống đủ nước và duy trì cân nặng hợp lý sẽ giúp cơ thể thiết lập lại thế cân bằng điện giải một cách an toàn.

Tóm lại, kiểm soát huyết áp bằng dinh dưỡng không chỉ là câu chuyện cắt giảm muối đơn thuần mà là bài toán cân bằng giữa việc giảm natri và tăng cường kali [1]. Duy trì một chế độ ăn nhiều rau quả tươi, sữa ít béo theo mô hình DASH và tham vấn bác sĩ khi có bệnh nền sẽ giúp người cao huyết áp bảo vệ sức khỏe mạch máu một cách bền vững [7].