Nhịn ăn gián đoạn đang trở thành trào lưu kiểm soát cân nặng phổ biến tại Việt Nam. Nhiều người áp dụng chế độ này lo lắng việc nhịn ăn kéo dài làm tăng axit uric máu, giảm lượng nước tiểu và gây sỏi thận.
Thực tế, nhịn ăn làm thay đổi rõ rệt các chỉ số sinh hóa máu và nước tiểu liên quan đến quá trình tạo sỏi. Ở người khỏe mạnh, trạng thái nhịn ăn giúp giảm nồng độ axit uric huyết tương trung bình và giảm tỷ lệ đào thải axit uric quá mức qua nước tiểu so với khi ăn uống bình thường [1]. Tuy nhiên, nếu nhịn ăn kèm hạn chế uống nước, độ bão hòa axit uric và oxalat trong nước tiểu sẽ tăng cao tương đương người bị sỏi thận [2].
Cơ chế thay đổi axit uric và nước tiểu khi nhịn ăn
Axit uric là sản phẩm chuyển hóa tự nhiên của chất purin có nhiều trong thực phẩm. Khi cơ thể ở trạng thái nhịn ăn, nguồn cung cấp purin từ thức ăn tạm ngừng, dẫn đến giảm nồng độ axit uric trung bình trong huyết tương ở người bình thường [1]. Đồng thời, bài tiết axit uric qua nước tiểu có mối liên hệ thuận chiều với lưu lượng dòng nước tiểu ở mức bình thường [1].
Tuy nhiên, nguy cơ tạo sỏi phụ thuộc lớn vào thể tích nước tiểu, độ pH (độ axit của nước tiểu) và sự cân bằng giữa các chất thúc đẩy tạo sỏi (như canxi, oxalat, axit uric, photphat) với các chất ức chế tạo sỏi (như citrat, magie) [3][2]. Khi nhịn ăn kèm hạn chế dịch đưa vào cơ thể, nước tiểu bị cô đặc làm tăng độ siêu bão hòa của axit uric, oxalat và brushite (một dạng tinh thể canxi photphat) [2].
Bên cạnh đó, các rối loạn chuyển hóa đường và mỡ máu tác động trực tiếp đến môi trường nước tiểu. Tình trạng kháng insulin và tăng insulin máu làm giảm khả năng bài tiết axit và thay đổi sản xuất amoni ở thận, khiến độ pH nước tiểu giảm thấp (nước tiểu mang tính axit hơn) [4]. Môi trường nước tiểu axit là điều kiện thuận lợi thúc đẩy axit uric kết tinh và kết tụ thành sỏi [5][4].
Nghiên cứu về nhịn ăn, axit uric và tinh thể nước tiểu
Một nghiên cứu năm 1976 đo nồng độ axit uric huyết tương và nước tiểu trên 132 nam giới bị sỏi thận chứa canxi và 24 nam giới khỏe mạnh cùng độ tuổi [1]. Kết quả cho thấy việc nhịn ăn làm giảm đáng kể nồng độ axit uric huyết tương trung bình ở người bình thường [1]. Tình trạng tăng axit uric máu gián đoạn ghi nhận ở 7% bệnh nhân sỏi thận khi nhịn ăn [1]. Đáng chú ý, tình trạng tăng axit uric niệu (đào thải nhiều axit uric qua nước tiểu) gián đoạn xuất hiện ở 17% bệnh nhân khi không nhịn ăn, nhưng giảm xuống chỉ còn 2% đến 6% ở các đối tượng nhịn ăn [1]. Nghiên cứu kết luận phần lớn bất thường axit uric ở người sỏi canxi bắt nguồn từ chế độ ăn và có thể phòng ngừa bằng cách giảm thực phẩm giàu purin [1].
Một nghiên cứu khác công bố năm 2005 đánh giá tác động của việc hạn chế nước và thức ăn khi nhịn ăn tháng Ramadan lên các yếu tố sinh hóa tạo sỏi trong mẫu nước tiểu buổi sáng đầu tiên [2]. Nghiên cứu thực hiện trên 90 người chia làm 3 nhóm: người khỏe mạnh có nhịn ăn (nhóm 1), người khỏe mạnh không nhịn ăn (nhóm 2) và bệnh nhân sỏi canxi không nhịn ăn (nhóm 3) [2]. Kết quả cho thấy các chất thúc đẩy tạo sỏi (oxalat, canxi, axit uric, photphat) và chất ức chế tạo sỏi (citrat, magie) có sự khác biệt thống kê giữa nhóm nhịn ăn và nhóm khỏe mạnh không nhịn ăn [2]. Độ siêu bão hòa nước tiểu với oxalat, axit uric và brushite ở người khỏe mạnh nhịn ăn cao ngang bằng bệnh nhân sỏi canxi và cao hơn hẳn người khỏe mạnh không nhịn ăn [2]. Tỷ lệ có tinh thể trong nước tiểu ở bệnh nhân sỏi thận cao hơn người khỏe mạnh không nhịn ăn (58% so với 11,4%) [2]. Tinh thể oxalat monohydrat và tinh thể axit uric không tồn tại ở người khỏe mạnh ăn uống bình thường, nhưng chiếm lần lượt 4% và 12% ở bệnh nhân sỏi thận [2]. Hồ sơ tinh thể niệu ở người khỏe mạnh nhịn ăn giống hệt bệnh nhân sỏi canxi, nhưng nhờ sự cân bằng giữa chất thúc đẩy và chất ức chế nên rủi ro kết tinh tạo sỏi được giảm thiểu [2].
Đối với sỏi canxi photphat, một nghiên cứu năm 1987 khảo sát hormone gastrin huyết thanh, trạng thái axit-bazơ, chuyển hóa khoáng chất trong máu lúc đói và nước tiểu lúc đói trên 12 người khỏe mạnh, 12 bệnh nhân sỏi canxi tái phát có canxi niệu bình thường và 12 bệnh nhân sỏi canxi tái phát có tăng canxi niệu [6]. Kết quả ghi nhận ở nhóm bệnh nhân sỏi canxi tái phát có mức gastrin lúc đói thấp trong ngưỡng bình thường, độ pH nước tiểu cao hơn bình thường và độ siêu bão hòa hydroxyapatite tăng đáng kể, tạo điều kiện kết tủa canxi photphat làm nhân sỏi [6].
Về vai trò của thể tích nước tiểu, một phân tích hồi cứu năm 1991 trên 80 bệnh nhân sỏi thận ngoại trú tại khu vực đô thị New York đánh giá nước tiểu 24 giờ cho thấy khoảng 79% bệnh nhân có thể tích nước tiểu thấp dưới 2 lít [3]. Trong nhóm này, 40% giảm citrat niệu, 30% tăng oxalat niệu, 18% tăng canxi niệu và 13% tăng axit uric niệu [3]. Khi thực hiện nghiệm pháp nạp canxi, 39% bệnh nhân (31 người) được phân loại tăng canxi niệu do hấp thu (16 người) hoặc tăng canxi niệu lúc đói kèm hormone tuyến cận giáp bình thường (12 người) hoặc cao (3 người) [3]. Thể tích nước tiểu thấp là khiếm khuyết duy nhất ở 5% bệnh nhân, trong khi 93% bệnh nhân có nhiều hơn một yếu tố nguy cơ [3].
Mối liên hệ giữa đường huyết, mỡ máu và sỏi axit uric
Trạng thái chuyển hóa lúc đói có liên hệ chặt chẽ với nguy cơ hình thành sỏi. Một nghiên cứu quan sát năm 2024 tại Trung tâm Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Chicago so sánh 42 bệnh nhân sỏi canxi có tăng canxi niệu vô căn và 27 người khỏe mạnh [7]. Người tham gia được lấy ít nhất 2 mẫu máu và nước tiểu định giờ lúc đói trước bữa sáng cố định, sau đó lấy thêm 6 mẫu sau ăn [7]. Kết quả cho thấy bệnh nhân sỏi thận có nồng độ insulin huyết thanh lúc đói cao hơn (chênh lệch 24 pmol/L, khoảng dao động 3-46 pmol/L) và chỉ số kháng insulin HOMA-IR cao hơn (chênh lệch 1,0, khoảng dao động 0,2-1,8) so với người khỏe mạnh [7]. Sau khi ăn, đường huyết của người bị sỏi cũng cao hơn (chênh lệch 10 mg/dL, khoảng dao động 2-18 mg/dL) [7]. Điểm giới hạn của nghiên cứu này là thực hiện tại một trung tâm duy nhất và cỡ mẫu nhỏ [7].
Một nghiên cứu hồi cứu năm 2025 phân tích hồ sơ của 267 bệnh nhân sỏi đường tiết niệu trên từ tháng 1/2019 đến tháng 5/2024, gồm 43 người bị sỏi axit uric và 224 người bị các loại sỏi khác [5]. Nhóm sỏi axit uric có chỉ số khối cơ thể (BMI), tỷ lệ béo phì, tỷ lệ tiểu đường, nồng độ nitơ urê máu (BUN), creatinin huyết thanh, axit uric máu, đường huyết lúc đói, cholesterol toàn phần và triglycerid cao hơn đáng kể, trong khi độ pH nước tiểu và đạm toàn phần thấp hơn [5]. Phân tích xác định pH nước tiểu là yếu tố bảo vệ, còn BMI, chức năng thận, axit uric, đường huyết lúc đói và cholesterol toàn phần là các yếu tố nguy cơ tạo sỏi axit uric [5].
Tương tự, một nghiên cứu hồi cứu năm 2014 theo dõi 321 bệnh nhân sỏi tiết niệu trong hơn 24 tháng (từ năm 2004 đến 2009) dựa trên mẫu máu lúc đói và nước tiểu 24 giờ [8]. Những người có triglycerid máu cao bài tiết lượng canxi, natri, axit uric, magie và kali qua nước tiểu cao hơn đáng kể; riêng phân nhóm sỏi axit uric có thêm tình trạng giảm pH nước tiểu [8]. Nhóm có cholesterol tốt (HDL) thấp bài tiết nhiều natri, magie, kali niệu hơn; nhóm cholesterol xấu (LDL) cao bài tiết ít natri niệu hơn [8]. Sau thời gian theo dõi trung vị 35,0 tháng, 109 bệnh nhân (34%) bị tái phát sỏi [8]. Tỷ lệ tái phát ở nhóm tăng triglycerid máu là 45,9% so với 29,7% ở nhóm triglycerid bình thường, làm tăng nguy cơ tái phát sỏi độc lập với tỷ số rủi ro 1,857 [8].
Lợi ích và giới hạn của bằng chứng khoa học
Các dữ liệu nghiên cứu hiện có cho thấy việc tạm ngừng nạp thức ăn trong thời gian nhịn ăn giúp làm giảm nồng độ axit uric máu trung bình và giảm tỷ lệ tăng axit uric niệu do cắt giảm nguồn purin từ khẩu phần ăn [1]. Ở người hoàn toàn khỏe mạnh, dù nhịn ăn làm thay đổi các chỉ số nước tiểu buổi sáng, cơ thể vẫn duy trì được sự cân bằng giữa các chất thúc đẩy và chất ức chế kết tinh [2].
Tuy nhiên, bằng chứng khoa học cũng chỉ ra những giới hạn rõ rệt. Trong văn hóa y khoa hiện tại, vẫn còn thiếu dữ liệu xác định liệu nguy cơ tạo sỏi đã tăng lên ngay từ giai đoạn tiền tiểu đường (như rối loạn dung nạp đường đơn độc hoặc rối loạn đường huyết lúc đói đơn độc) hay chưa [4]. Ngoài ra, nghiên cứu về kháng insulin trên người bệnh sỏi canxi vẫn bị giới hạn bởi quy mô mẫu nhỏ tại một cơ sở y tế duy nhất, chưa thể phân tích sâu cho từng phân nhóm sỏi canxi khác nhau [7].
Những hiểu lầm thường gặp khi nhịn ăn và phòng sỏi
Hiểu lầm phổ biến nhất là nhịn ăn gián đoạn đồng nghĩa với việc nhịn cả uống nước. Thực tế, việc hạn chế dịch và thức ăn cùng lúc làm nước tiểu bị siêu bão hòa axit uric và oxalat, tạo ra hồ sơ tinh thể niệu giống hệt bệnh nhân bị sỏi thận [2]. Lượng nước tiểu thấp dưới 2 lít mỗi ngày là bất thường gặp ở 79% người bị sỏi thận [3].
Hiểu lầm thứ hai là chỉ cần kiêng ăn thực phẩm giàu đạm, giàu purin là tránh được hoàn toàn sỏi axit uric. Nghiên cứu cho thấy ngay cả khi nhịn ăn, vẫn có 7% bệnh nhân sỏi thận bị tăng axit uric máu gián đoạn và 2% đến 6% bị tăng axit uric niệu [1]. Hơn nữa, tình trạng béo phì, kháng insulin, đường huyết lúc đói cao và tăng triglycerid máu đều làm giảm pH nước tiểu và thúc đẩy tạo sỏi axit uric cũng như làm sỏi tái phát [8][5][4].
Ai nên thận trọng khi áp dụng nhịn ăn gián đoạn?
Người có tiền sử sỏi tiết niệu cần đặc biệt thận trọng khi thay đổi chế độ ăn. Thống kê cho thấy 93% bệnh nhân sỏi thận mang nhiều hơn một yếu tố nguy cơ chuyển hóa và 34% có nguy cơ tái phát sỏi sau khoảng 3 năm [8][3]. Một bộ phận người bệnh vẫn tiếp tục tăng đào thải canxi qua nước tiểu ngay cả trong trạng thái nhịn ăn (tăng canxi niệu lúc đói) [3].
Người mắc bệnh tiểu đường, béo phì hoặc có chỉ số BMI cao thuộc nhóm nguy cơ cao hình thành sỏi axit uric đường tiết niệu trên [5][4]. Sỏi tiết niệu là nguyên nhân tiết niệu phổ biến nhất khiến bệnh nhân tiểu đường phải nhập viện với chi phí điều trị thường cao hơn người không mắc tiểu đường [4]. Người bị rối loạn mỡ máu (đặc biệt là tăng triglycerid, tăng cholesterol toàn phần, giảm HDL) và người có suy giảm chức năng thận (tăng BUN, tăng creatinin huyết thanh) cũng cần hỏi ý kiến bác sĩ trước khi áp dụng nhịn ăn [8][5].
Cách áp dụng thực tế để bảo vệ thận khi nhịn ăn
Để nhịn ăn gián đoạn an toàn, nguyên tắc quan trọng nhất là duy trì đủ lượng nước uống trong suốt cả ngày, kể cả trong khung giờ nhịn ăn. Việc giữ lưu lượng nước tiểu ổn định giúp hỗ trợ đào thải axit uric thuận lợi và tránh tình trạng thể tích nước tiểu tụt xuống dưới mức 2 lít mỗi ngày [3][1]. Bổ sung đủ nước ngăn chặn sự cô đặc và siêu bão hòa các tinh thể axit uric, oxalat trong nước tiểu, đặc biệt là vào buổi sáng [2].
Trong khung giờ được phép ăn, cần kiểm soát lượng thực phẩm giàu purin để ngăn ngừa tình trạng tăng axit uric máu và axit uric niệu sau bữa ăn [1]. Đồng thời, duy trì chế độ ăn cân bằng giúp kiểm soát cân nặng, đường huyết và mỡ máu (đặc biệt là triglycerid và cholesterol) [8][5]. Người có bệnh nền hoặc từng bị sỏi thận nên định kỳ kiểm tra các chỉ số máu lúc đói (đường huyết, mỡ máu, axit uric, chức năng thận) và xét nghiệm độ pH nước tiểu để phát hiện sớm nguy cơ kết tinh sỏi [8][5].
Nhịn ăn gián đoạn có thể giúp giảm axit uric máu tạm thời nhờ hạn chế nguồn purin nạp vào, nhưng lại làm tăng nguy cơ kết tinh sỏi nếu cơ thể bị thiếu nước. Độc giả nên uống đủ nước để đảm bảo thể tích nước tiểu trên 2 lít mỗi ngày và kiểm soát tốt đường huyết, mỡ máu. Những người có tiền sử sỏi thận, tiểu đường hoặc rối loạn chuyển hóa cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi thực hiện bất kỳ chế độ nhịn ăn nào.




