Nhiều người có thói quen pha một viên sủi vitamin C vào ly nước rồi tiện tay nhấp thêm vài ngụm trà xanh đậm đặc vào buổi sáng để vừa tăng cường đề kháng, vừa giúp tinh thần tỉnh táo làm việc. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa một bên là nguồn cung cấp acid ascorbic liều cao và một bên là thức uống dồi dào polyphenol lẫn oxalate tự nhiên này lại làm dấy lên mối lo ngại về nguy cơ lắng đọng tinh thể tại thận. Liệu thói quen uống chung hai loại này có thực sự biến đường tiết niệu thành nơi tích tụ sỏi thận như lời đồn thổi hay không?

Câu trả lời dựa trên các cơ sở sinh học và nghiên cứu thực nghiệm hiện có là: việc uống chung viên sủi vitamin C và trà xanh thông thường không làm tăng nguy cơ hình thành sỏi thận calcium oxalate ở người khỏe mạnh, nhưng lại tiềm ẩn rủi ro chuyển hóa đối với những người có tiền sử sỏi thận hoặc suy giảm chức năng thận. Thậm chí, các hợp chất chống oxy hóa tự nhiên trong trà xanh còn thể hiện đặc tính ức chế sự kết tụ tinh thể oxalate trong các mô hình thí nghiệm sinh học.

Cơ chế chuyển hóa oxalate và những hiểu lầm phổ biến

Sỏi thận phổ biến nhất hiện nay là sỏi calcium oxalate, hình thành khi nồng độ oxalate và calcium trong nước tiểu đạt mức bão hòa cao, dẫn tới hiện tượng kết tinh, bám dính và lắng đọng tại các ống thận. Axit ascorbic (vitamin C) khi đi vào cơ thể sau khi được hấp thu sẽ trải qua quá trình chuyển hóa nội sinh, trong đó một phần nhỏ bị thoái giáng để biến đổi thành oxalate trước khi đào thải qua đường tiết niệu [1]. Chính mắt xích này khiến nhiều người e ngại rằng nạp liều cao vitamin C từ viên sủi sẽ làm tăng vọt lượng oxalate trong nước tiểu.

Tuy nhiên, các nhà khoa học đã làm rõ rằng quá trình hấp thu vitamin C ở ruột cũng như sự tái hấp thu tại ống thận đều là những cơ chế có giới hạn bão hòa nhất định [1]. Quá trình chuyển hóa sinh học từ vitamin C thành oxalate nội sinh trong cơ thể người khỏe mạnh diễn ra có kiểm soát chứ không gia tăng vô hạn theo lượng uống vào [1]. Bên cạnh đó, các phương pháp phân tích mẫu nước tiểu trước đây thường gây ra hiện tượng vitamin C tự chuyển hóa thành oxalate trong ống nghiệm khi lưu trữ và xử lý, từ đó thổi phồng nguy cơ thực tế trên người [1].

Về phía trà xanh, lá trà tự nhiên (Camellia sinensis) thực chất có chứa oxalate tự nhiên và hàm lượng này thay đổi tùy thuộc vào nguồn gốc, chất lượng búp trà, thời điểm thu hái và cách thức hãm trà [2], [3]. Trà đen và trà xanh được ghi nhận có hàm lượng oxalate cao hơn so với các loại trà thảo mộc hay trà hoa quả [3]. Khi nghe đến việc trà xanh giàu oxalate kết hợp với vitamin C chuyển hóa ra oxalate, nhiều người vội vàng quy kết rằng sự cộng dồn này sẽ tạo ra "cơn bão oxalate" gây tắc nghẽn thận, song thực tế các chất chống oxy hóa đi kèm trong trà xanh lại có cơ chế đối kháng rất đặc biệt.

Trà xanh: Nguồn polyphenol dồi dào và tác động ức chế tinh thể

Dù lá trà xanh chứa một lượng oxalate thực vật nhất định, các nghiên cứu chuyên sâu chỉ ra rằng các chất chống oxy hóa dồi dào trong thức uống này mang lại tác dụng bảo vệ ống thận rõ rệt trước sự tổn thương do tinh thể [2]. Lá trà xanh chứa khoảng 13% catechins, nổi bật nhất là epigallocatechin gallate (EGCG), epigallocatechin (EGC), epicatechin gallate (ECG) và epicatechin (EC) [4], [2]. Các polyphenol này đã thu hút sự chú ý lớn từ giới y khoa nhờ khả năng chống tạo sỏi, ngăn ngừa xơ vữa và triệt tiêu các gốc oxy hóa tự do [4], [2].

Quá trình hình thành sỏi thận có nhiều nét tương đồng với cơ chế xơ vữa động mạch về mặt dịch tễ học, cơ chế sinh học phân tử và sự vôi hóa, vốn là quá trình có thể bị ức chế bởi các chất chống oxy hóa [4]. Sự tích tụ các gốc oxy hóa tự do (ROS) đóng vai trò thúc đẩy quan trọng trong sự tiến triển của bệnh sỏi thận [5]. Khi các tế bào biểu mô ống thận bị tổn thương do mất cân bằng oxy hóa, chúng sẽ giải phóng ra các phân tử kết dính và tạo điều kiện để các tinh thể tự do gắn kết vào màng tế bào. Các catechin trong trà xanh hoạt động như một lá chắn dọn dẹp các gốc oxy hóa tự do, bảo tồn sự toàn vẹn của màng tế bào ống thận và ngăn chặn bước đầu của quá trình hình thành sỏi [4], [5].

Đặc biệt, catechin trong trà xanh còn điều hòa hoạt tính của các phân tử kết dính quan trọng, điển hình là osteopontin (OPN) – một thành phần cốt lõi của protein khung sỏi [5]. Sự biểu hiện quá mức của osteopontin tạo điều kiện cho các tinh thể calcium oxalate monohydrate bám dính chặt chẽ vào bề mặt tế bào thận [5]. Bằng cách làm giảm mật độ phân bố của osteopontin trên tế bào ống thận, các polyphenol trong trà xanh làm mất đi điểm tựa bám dính của các tinh thể khoáng chất [5], [2].

Bằng chứng từ các mô hình thí nghiệm trên động vật và tế bào

Tác động ngăn ngừa lắng đọng sỏi của trà xanh đã được kiểm chứng qua nhiều công trình thực nghiệm quy chuẩn. Trong một nghiên cứu công bố năm 2005, 120 cá thể chuột Wistar được chia thành 4 nhóm để đánh giá tác dụng ức chế tạo sỏi của trà xanh: nhóm 1 là đối chứng dùng nước muối sinh lý; nhóm 2 gây sỏi bằng ethylene glycol (EG) và vitamin D3; nhóm 3 được cho uống nước trà xanh thay nước lọc cùng EG và vitamin D3; nhóm 4 ăn chế độ chứa 2,5% bột lá trà xanh kèm chất gây sỏi [4]. Mẫu nước tiểu 24 giờ và mẫu máu được thu thập, thận chuột được phẫu tích đánh giá sau 7, 14 và 21 ngày can thiệp [4].

Kết quả ghi nhận nhóm chuột được bổ sung trà xanh dạng nước uống hoặc dạng bột thức ăn đã giảm sự đào thải oxalate niệu và giảm hẳn sự hình thành cặn lắng calcium oxalate so với nhóm gây sỏi thông thường [4]. Hoạt tính của men chống oxy hóa superoxide dismutase (SOD) ở nhóm dùng trà xanh tăng lên đáng kể, trong khi tỷ lệ chết theo chương trình (apoptosis) của tế bào biểu mô thận giảm đi rõ rệt [4]. Điều này chứng minh tác dụng ức chế tạo sỏi calcium oxalate của trà xanh xuất phát chủ yếu từ cơ chế chống oxy hóa [4].

Tiếp tục đi sâu vào cơ chế tế bào, nghiên cứu năm 2006 sử dụng dòng tế bào thận NRK-52E được ủ với các nồng độ oxalate khác nhau có hoặc không có hoạt chất EGCG từ trà xanh [6]. Kết quả chỉ ra khi nồng độ oxalate tăng cao, số lượng tế bào sống sót sụt giảm và các gốc tự do hình thành dày đặc [6]. Tuy nhiên, sự xuất hiện của EGCG đã ức chế mạnh mẽ quá trình sản sinh gốc tự do gây độc do oxalate gây ra [6].

Trong cùng công trình năm 2006, các nhà khoa học thử nghiệm trên chuột Sprague-Dawley đực chia làm 3 nhóm: nhóm 1 ăn tiêu chuẩn; nhóm 2 ăn khẩu phần chứa 3% sodium oxalate kết hợp tiêm gentamicin liều 40 mg/kg gây tổn thương thận; nhóm 3 ăn giống nhóm 2 nhưng chỉ uống nước trà xanh [6]. Sau 4 tuần theo dõi và thu mẫu nước tiểu 24 giờ, nhóm chuột dùng trà xanh giảm hẳn nồng độ oxalate niệu, giảm hoạt độ các men tổn thương tế bào ống thận như gamma-glutamyltranspeptidase và N-acetylglucosaminidase, đồng thời số lượng tinh thể trong nhu mô thận ở nhóm uống trà xanh ít hơn hẳn nhóm đối chứng bệnh lý [6].

Năm 2013, một nghiên cứu khác tiếp tục xác nhận catechin ngăn chặn quá trình kết tinh calcium oxalate monohydrate trên tế bào NRK-52E và ngăn tạo sỏi thận do ethylene glycol trên chuột cống [5]. Nghiên cứu chỉ ra rằng ở nhóm đối chứng gây sỏi bằng EG, protein OPN phân bố dày đặc khắp các tế bào ống thận, trong khi ở nhóm được điều trị bằng catechin, sự biểu hiện của OPN hầu như không phát hiện được hoặc chỉ giới hạn ở mức tối thiểu [5]. Sự sụt giảm OPN dưới tác động của catechin đã làm giảm xu hướng kết dính tinh thể vào mô thận [5].

Các tổng quan hệ thống năm 2018 cũng ghi nhận bổ sung trà xanh giúp làm giảm tình trạng quá bão hòa của tinh thể brushite, tăng cường nồng độ SOD, tăng biểu hiện của protein chống chết tế bào Bcl-2 và giảm chỉ số apoptosis trong mô hình động vật thí nghiệm [2].

Dữ liệu từ các nghiên cứu trên người: Có đáng lo ngại?

Khi chuyển từ phòng thí nghiệm sang các nghiên cứu lâm sàng trên cơ thể người, các dữ liệu khoa học tiếp tục đưa ra nhiều phát hiện bất ngờ. Một nghiên cứu công bố năm 2019 tiến hành trên những bệnh nhân bị tăng canxi niệu vô căn nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc uống trà xanh hàng ngày đối với các yếu tố nguy cơ tạo sỏi và cấu trúc sỏi [7]. Bằng thiết kế nghiên cứu quan sát cắt ngang, các tác giả nhận thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm người uống trà xanh hàng ngày và nhóm không uống trà về các yếu tố rủi ro, cụ thể là mức đào thải oxalate trong nước tiểu 24 giờ, độ pH nước tiểu, canxi, urat, citrat cũng như các chỉ số quá bão hòa [7].

Thậm chí, phân tích trên một đoàn hệ lớn tại Trung Quốc được trích dẫn trong nghiên cứu lâm sàng này còn chỉ ra thói quen uống trà xanh có liên quan đến việc giảm nguy cơ mắc mới sỏi thận [7]. Trong số 98 mẫu sỏi thu thập từ nhóm bệnh nhân tăng canxi niệu trong nghiên cứu, 34% chứa thành phần khoáng chất nhưng việc tiêu thụ trà xanh không làm biến đổi tiêu cực thành phần hay cấu trúc của sỏi [7]. Bên cạnh đó, các chỉ số về khối lượng cơ thể (BMI), nguy cơ tim mạch hay nồng độ canxi và phospho trong máu giữa người uống và không uống trà xanh cũng tương đương nhau [7].

Về phía vitamin C, nghiên cứu theo dõi tiến cứu quy mô lớn Harvard Prospective Health Professional Follow-Up Study cho thấy nhóm nam giới có lượng tiêu thụ vitamin C cao nhất trong nghiên cứu (trên 1.500 mg/ngày) lại có nguy cơ bị sỏi thận thấp hơn so với nhóm có mức tiêu thụ thấp nhất [1]. Cơ thể người bình thường có khả năng tự điều hòa hấp thu qua niêm mạc ruột và tái hấp thu tại cầu thận để duy trì ngưỡng an toàn, không để nồng độ oxalate tăng vọt mất kiểm soát khi sử dụng vitamin C [1].

Vai trò bất ngờ của hệ vi sinh vật đường ruột

Một yếu tố then chốt giúp giải thích vì sao trà xanh chứa oxalate nhưng không làm tăng nguy cơ sỏi ở nhiều người nằm ở hệ vi sinh đường ruột. Một nghiên cứu năm 2021 tiến hành khảo sát thói quen ăn uống kết hợp phân tích trình tự 16S rDNA và các acid béo chuỗi ngắn (SCFA) từ mẫu phân của 30 bệnh nhân sỏi calcium oxalate và 30 người khỏe mạnh [8]. Nghiên cứu xác định được 5 chi vi khuẩn đường ruột đóng vai trò là dấu ấn sinh học liên quan đến sỏi thận gồm: Bacteroides, Phascolarctobacterium, Faecalibacterium, Akkermansia, và Lactobacillus, đạt giá trị diện tích dưới đường cong ROC là 0,871 (khoảng tin cậy 95%: 0,785–0,957) [8].

Trong đó, hai chi Phascolarctobacterium và Faecalibacterium có mối tương quan thuận với quá trình tổng hợp acid béo chuỗi ngắn, hỗ trợ làm giảm nguy cơ hình thành sỏi [8]. Đáng chú ý nhất, phân tích chỉ ra rằng chi Lactobacillus đóng góp tới 79% vào việc ngăn ngừa sỏi thận ở những người có thói quen tiêu thụ nhiều trà [8]. Các nhà khoa học đã phân lập được 3 chủng vi khuẩn Lactobacillus từ phân của người khỏe mạnh có mức tiêu thụ trà đậm mà không hề mắc sỏi thận [8]. Trong mô hình mô phỏng môi trường đại tràng in vitro, cả 3 chủng vi khuẩn này đều sống sót tốt dưới nồng độ trà cao và thể hiện khả năng phân hủy acid oxalic thức ăn lên tới khoảng 50% [8].

Điều này khẳng định rằng đường tiêu hóa của người bình thường sở hữu những cơ chế sinh học mạnh mẽ để trung hòa một lượng lớn oxalate từ đồ uống trước khi chúng kịp đi vào hệ tuần hoàn và chuyển hóa tới thận [8].

Những đối tượng bắt buộc phải thận trọng

Mặc dù các bằng chứng trên cho thấy người khỏe mạnh không cần quá lo lắng khi dùng đồng thời hai loại thức uống này, sự thận trọng tuyệt đối vẫn là nguyên tắc y khoa bắt buộc đối với một số nhóm đối tượng đặc biệt.

Các bệnh nhân có tiền sử hình thành sỏi thận tái phát nhiều lần, người bị suy giảm chức năng thận hoặc những người mắc chứng rối loạn chuyển hóa acid ascorbic hoặc rối loạn chuyển hóa oxalate bẩm sinh được khuyến cáo phải giới hạn lượng vitamin C nạp vào hàng ngày ở mức khoảng 100 mg [1]. Đối với nhóm người này, một viên sủi vitamin C thông thường (thường chứa hàm lượng từ 500 mg đến 1.000 mg) đã vượt quá xa ngưỡng khuyến cáo an toàn sinh học [1]. Khi khả năng tái hấp thu và chuyển hóa bị khiếm khuyết, lượng acid ascorbic dư thừa không được lọc thải hiệu quả có thể biến đổi thành oxalate tự do, gặp gỡ oxalate từ chế độ ăn uống (như trà xanh đậm đặc) và kết tủa nhanh chóng với calcium tại thận.

Ngoài ra, những người mắc các bệnh lý đường tiêu hóa mạn tính, người vừa trải qua các đợt dùng kháng sinh kéo dài làm suy giảm nghiêm trọng hệ vi sinh vật đường ruột (đặc biệt là mất đi các chủng vi khuẩn phân giải oxalate như Lactobacillus) cũng cần cẩn trọng [8]. Khi thiếu vắng các vi khuẩn này, lượng oxalate hấp thu qua niêm mạc ruột vào máu sẽ tăng cao đột ngột [8].

Hướng dẫn sử dụng đúng cách trong đời sống hàng ngày

Để nhận trọn vẹn lợi ích tăng cường sức đề kháng từ vitamin C và khả năng chống oxy hóa, bảo vệ tế bào từ trà xanh mà không tạo áp lực chuyển hóa lên thận, người dùng nên áp dụng một số nguyên tắc khoa học sau:

Tránh pha chung hoặc uống dồn dập cùng thời điểm: Không nên dùng nước trà xanh ấm hoặc nguội để thả viên sủi vitamin C vào hòa tan. Nhiệt độ và các thành phần tannin, khoáng chất trong trà có thể làm biến đổi cấu trúc hoặc giảm độ hòa tan của các vi chất trong viên sủi. Tốt nhất, hãy uống viên sủi vitamin C với nước lọc nguội vào buổi sáng sau bữa ăn khoảng 30 phút để tăng hấp thu và tránh kích ứng dạ dày. Sau đó, bạn có thể thưởng thức trà xanh cách thời điểm này từ 2 đến 3 tiếng.

Kiểm soát liều lượng và chất lượng trà: Khi pha trà xanh, nên sử dụng lượng lá trà vừa phải, không nên hãm trà quá lâu tạo vị đắng chát đặc quánh bởi hàm lượng oxalate giải phóng ra nước phụ thuộc rất lớn vào chất lượng búp trà và thời gian hãm [3]. Việc uống trà pha loãng không chỉ giữ được hương vị mà còn hạn chế lượng oxalate tự do nạp vào đường tiêu hóa [3].

Duy trì lối sống bảo vệ thận: Yếu tố quan trọng nhất để ngăn ngừa sỏi thận là uống đủ từ 2 đến 2,5 lít nước lọc rải đều suốt cả ngày. Nước lọc đóng vai trò pha loãng nồng độ chất tan trong nước tiểu, hạ thấp chỉ số quá bão hòa của tinh thể calcium oxalate và thúc đẩy quá trình đào thải tự nhiên qua đường tiết niệu trước khi chúng kịp liên kết với nhau.

Việc uống viên sủi vitamin C và thưởng thức trà xanh hoàn toàn có thể song hành trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày mà không gây sỏi thận ở người khỏe mạnh. Điều cốt lõi nằm ở việc lắng nghe cơ thể, sử dụng liều lượng vừa phải, giãn cách thời gian uống hợp lý và luôn tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa nếu bản thân có bệnh lý nền về thận hoặc đường tiêu hóa.