Đi tiêu không đều đặn, phân khô cứng và cảm giác khó chịu ở vùng bụng là nỗi ám ảnh thường trực của rất nhiều người trong đời sống hiện đại. Khi tình trạng này kéo dài dai dẳng từ tháng này qua năm khác, không ít người rơi vào trạng thái hoang mang, lo sợ rằng việc ứ đọng chất thải lâu ngày sẽ biến thành mầm mống ung thư đại trực tràng.
Mối băn khoăn này hoàn toàn có cơ sở về mặt sinh học, tuy nhiên các bằng chứng khoa học thực tế lại phức tạp và đa chiều hơn rất nhiều. Nhiều nghiên cứu dịch tễ học quy mô lớn cho thấy táo bón mạn tính có thể làm gia tăng nguy cơ polyp và u bướu ở đường ruột, song việc táo bón trực tiếp gây ra ung thư hay chỉ đóng vai trò là một yếu tố phản ánh chế độ sinh hoạt vẫn còn nhiều tranh cãi.
Độc tố ứ đọng và niêm mạc ruột: Cơ chế sinh học dưới góc nhìn y khoa
Giả thuyết kinh điển lý giải mối liên hệ giữa táo bón và ung thư ruột xoay quanh thời gian lưu chuyển của phân. Khi nhu động ruột suy giảm, thời gian vận chuyển phân kéo dài sẽ gia tăng thời gian tiếp xúc trực tiếp giữa các chất có tiềm năng gây ung thư trong chất thải với lớp niêm mạc đại tràng [5, 7].
Không dừng lại ở đó, quá trình ứ đọng kéo dài còn thúc đẩy đại tràng hấp thu ngược nước từ khối phân, khiến các chất sinh ung thư càng bị cô đặc với nồng độ cao hơn trên thành ruột [1]. Sự cọ xát, kích ứng tế bào biểu mô đại tràng kéo dài kết hợp cùng độc tố đậm đặc được xem là một giả thuyết sinh ung thư đại trực tràng quen thuộc trong nhiều năm qua [1, 7].
Bằng chứng dịch tễ: Các dữ liệu ủng hộ mối liên hệ giữa táo bón và u bướu
Nhiều phân tích tổng hợp từ các nghiên cứu bệnh - chứng trước đây ghi nhận tỷ lệ táo bón ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng cao hơn đáng kể so với người bình thường. Một phân tích tổng hợp từ 14 nghiên cứu bệnh - chứng đã ghi nhận tỷ lệ chênh (odds ratio) gộp về nguy cơ ung thư đại trực tràng tăng 48% có ý nghĩa thống kê ở nhóm bị táo bón hoặc đi tiêu không thường xuyên [1]. Đến năm 2013, một phân tích tổng hợp khác cũng chỉ ra tỷ lệ mắc táo bón ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng cao hơn nhóm chứng khỏe mạnh với tỷ số chênh OR = 1,68 (khoảng tin cậy 95%: 1,29-2,18) [2].
Một nghiên cứu hồi cứu quy mô lớn tại Mỹ năm 2014 dựa trên cơ sở dữ liệu bảo hiểm đã theo dõi 28.854 bệnh nhân táo bón mạn tính và 86.562 đối tượng đối chứng khỏe mạnh (tuổi trung bình 61,9 tuổi; 66,7% là nữ) [3]. Kết quả sau 1 năm theo dõi cho thấy tỷ lệ hiện mắc ung thư đại trực tràng ở nhóm táo bón là 2,7% so với 1,7% ở nhóm chứng, trong khi tỷ lệ mắc tân sinh đại trực tràng lành tính (polyp/u lành) ở nhóm táo bón lên tới 24,8% so với 11,9% ở nhóm chứng [3]. Sau khi hiệu chỉnh các bệnh lý đi kèm và tiền sử gia đình, tỷ số tỷ lệ mới mắc (IRR) ở nhóm táo bón mạn tính là 1,59 (KTC 95%: 1,43-1,78) đối với ung thư đại trực tràng và 2,60 (KTC 95%: 1,51-2,70) đối với u lành [3]. Đáng chú ý, nguy cơ này gia tăng rõ rệt theo mức độ nghiêm trọng của bệnh táo bón và tiếp tục duy trì mức cao sau 2 năm cũng như 5 năm theo dõi [3].
Tại Nhật Bản, nghiên cứu đoàn hệ Miyagi công bố năm 2004 trên 41.670 người (40-64 tuổi) được theo dõi suốt 7 năm và ghi nhận 251 ca ung thư đại trực tràng [4]. Nghiên cứu định nghĩa táo bón là tần suất đi tiêu ít hơn 1 lần mỗi ngày, cho thấy nguy cơ tương đối đa biến (RR) mắc ung thư đại trực tràng ở người táo bón là 1,35 (KTC 95%: 0,99-1,84) [4]. Khi bóc tách chi tiết, táo bón cho thấy mối liên quan rõ rệt với ung thư đại tràng đơn thuần [4].
Cũng trong năm 2004, một nghiên cứu đoàn hệ khác tại Nhật Bản khảo sát 25.731 nam giới và 37.198 phụ nữ sống tại 24 cộng đồng với thời gian theo dõi trung bình 7,6 năm, ghi nhận 649 ca ung thư đại trực tràng (bao gồm 429 ca ung thư đại tràng) [1]. Kết quả chỉ ra rằng phụ nữ có tần suất đi tiêu 6 ngày một lần hoặc ít hơn có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng tăng cao với IRR = 2,47 (KTC 95%: 1,01-6,01) và ung thư đại tràng với IRR = 2,52 (KTC 95%: 0,93-6,82) khi so sánh với nhóm đi tiêu từ 1 lần trở lên mỗi ngày [1]. Ngược lại, phụ nữ đi tiêu đều đặn mỗi 2-3 ngày lại có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng thấp nhất với IRR = 0,71 (KTC 95%: 0,52-0,97) [1].
Tại Trung Quốc, một tổng quan năm 2017 nhấn mạnh táo bón làm tăng đáng kể tỷ lệ mắc polyp đại trực tràng [5]. Do polyp đại trực tràng là tổn thương tiền ung thư, táo bón mạn tính được xem là một trong những yếu tố nguy cơ gián tiếp thúc đẩy sự hình thành ung thư đại trực tràng [5].
Những nghiên cứu bác bỏ: Táo bón thực sự là thủ phạm hay chỉ là yếu tố đi kèm?
Mặc dù có nhiều số liệu ủng hộ, không ít công trình khoa học hiện đại lại đưa ra kết luận trái ngược, cho thấy táo bón mạn tính không phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra ung thư. Ngay từ năm 1988, Nghiên cứu Ung thư Đại trực tràng Melbourne trên 685 ca bệnh và 723 người đối chứng khỏe mạnh đã xem xét thói quen đại tiện suốt đời [6]. Ban đầu, tỷ lệ tự báo cáo táo bón mạn tính ở nhóm bệnh nhân cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê (P = 0,05) [6]. Tuy nhiên, khi các nhà nghiên cứu hiệu chỉnh đồng thời với các yếu tố nguy cơ từ chế độ ăn uống, mối liên hệ giữa táo bón và ung thư biến mất hoàn toàn [6]. Nghiên cứu này kết luận chính chế độ ăn chứ không phải tình trạng táo bón mới là yếu tố thực sự liên quan đến nguy cơ ung thư ruột già [6]. Đáng chú ý, nguy cơ ung thư đại trực tràng tăng vọt có ý nghĩa thống kê (P = 0,02) ở những người vừa bị táo bón vừa có thói quen ăn nhiều chất béo [6].
Gần đây nhất, nghiên cứu bệnh - chứng quy mô toàn quốc tại Thụy Điển công bố năm 2022 đã phân tích 41.299 ca ung thư đại trực tràng (chẩn đoán qua sinh thiết từ tháng 7/2007 đến tháng 12/2016) ghép cặp với 203.181 người đối chứng trong cộng đồng [7]. Tiêu chuẩn táo bón mạn tính được xác định chặt chẽ thông qua việc có từ 2 đơn thuốc nhuận tràng trở lên trong cơ sở dữ liệu quốc gia cách nhau ít nhất 6 tháng [7]. Kết quả cho thấy tỷ lệ thô người mắc táo bón ở nhóm ung thư là 9,5% so với 8,8% ở nhóm đối chứng [7].
Sau khi hiệu chỉnh đa biến, nghiên cứu Thụy Điển ghi nhận mức tăng nhẹ nguy cơ với OR = 1,10 (KTC 95%: 1,06-1,14) [7]. Tuy nhiên, khi nhóm tác giả tiến hành phân tích đối chứng giữa các cặp anh chị em ruột để loại trừ triệt để các yếu tố gây nhiễu về di truyền và môi trường sống ban đầu, mối liên hệ này hoàn toàn biến mất (OR = 1,04; KTC 95%: 0,97-1,13) [7]. Phân tích độ nhạy trên 126.650 bệnh nhân ung thư từ năm 1989 đến 2016 có chẩn đoán táo bón tại các phòng khám chuyên khoa cũng không tìm thấy mối liên quan nào (OR = 0,88; KTC 95%: 0,75-1,04), đưa đến kết luận táo bón mạn tính không liên quan đến ung thư đại trực tràng sau này [7].
Bất ngờ hơn, Nghiên cứu Đoàn hệ Hà Lan về Chế độ ăn và Ung thư theo dõi 58.279 nam giới suốt 13,3 năm (ghi nhận 1.207 ca ung thư đại trực tràng) lại chỉ ra điều ngược lại [8]. Nhóm nam giới đi tiêu 1-2 lần/ngày có tỷ lệ nguy cơ (HR) mắc ung thư đại trực tràng là 1,29 (KTC 95%: 1,09-1,53) và ung thư trực tràng là 1,50 (KTC 95%: 1,15-1,95) so với người đi tiêu 1 lần/ngày [8]. Ngược lại, nam giới thỉnh thoảng hoặc thường xuyên bị táo bón lại có nguy cơ ung thư đại trực tràng giảm (HR = 0,76; KTC 95%: 0,58-0,98) và nguy cơ ung thư trực tràng giảm sâu (HR = 0,57; KTC 95%: 0,35-0,90) so với người không bao giờ bị táo bón [8]. Tương tự, một phân tích tổng hợp từ các nghiên cứu đoàn hệ trên hơn 1 triệu người công bố năm 2020 cũng chỉ ra rằng việc tăng tần suất đi tiêu có liên quan đến việc tăng nguy cơ ung thư trực tràng nhưng không liên quan tới ung thư đại tràng [2].
Góc nhìn đa chiều về lợi ích và giới hạn của bằng chứng hiện có
Sự mâu thuẫn giữa các kết quả nghiên cứu bắt nguồn từ thiết kế phương pháp và các yếu tố gây nhiễu trong nghiên cứu dịch tễ. Các nghiên cứu bệnh - chứng thường dễ bị ảnh hưởng bởi sai lệch nhớ lại (recall bias), khi bệnh nhân ung thư có xu hướng hồi tưởng và báo cáo tình trạng khó chịu đường ruột trong quá khứ nhiều hơn người khỏe mạnh [2, 5]. Trong khi đó, các nghiên cứu đoàn hệ quy mô lớn theo dõi tiến cứu lại kiểm soát tốt hơn mối quan hệ nhân quả [2].
Bên cạnh đó, khái niệm "táo bón" không đồng nhất giữa các báo cáo. Có nghiên cứu định nghĩa theo tần suất đi tiêu (dưới 1 lần/ngày hoặc vài ngày một lần), có nơi dựa trên việc sử dụng thuốc nhuận tràng, và có nơi đánh giá qua hồ sơ chẩn đoán bệnh viện [2, 5, 6]. Quan trọng hơn, táo bón thường đi kèm với chế độ ăn ít chất xơ, nhiều chất béo, ít vận động hoặc uống không đủ nước. Chính chế độ ăn giàu chất béo và nghèo chất xơ này mới là những tác nhân sinh ung thư độc lập mạnh mẽ đã được khẳng định [6].
Cảnh báo đặc biệt về việc lạm dụng thuốc nhuận tràng
Một vấn đề y khoa rất đáng lưu tâm ở người bị táo bón lâu năm là thói quen tự ý dùng thuốc nhuận tràng kéo dài. Nghiên cứu đoàn hệ Miyagi tại Nhật Bản cho thấy những người sử dụng thuốc nhuận tràng thường xuyên (từ 2 lần mỗi tuần trở lên) có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng cao gấp 2,75 lần (RR = 2,75; KTC 95%: 1,48-5,09) so với người không dùng [4].
Bên cạnh đó, tình trạng nhiễm hắc tố đại tràng (Melanosis Coli - MC), thuốc nhuận tràng và tỷ lệ mắc polyp đại trực tràng có mối liên hệ rất chặt chẽ [5]. Các chuyên gia khuyến cáo bệnh nhân táo bón mạn tính cần hạn chế lạm dụng nhóm thuốc nhuận tràng kích thích chứa anthraquinone để tránh làm tổn thương thêm niêm mạc đại tràng và thúc đẩy tạo polyp tiền ung thư [5].
Ai nên thận trọng và cần đi khám chuyên khoa sớm?
Táo bón có thể là một rối loạn chức năng lành tính, nhưng cũng có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm của khối u đang phát triển gây bít tắc lòng ruột. Các đối tượng sau cần hết sức lưu ý:
- Người trên 40-50 tuổi đột ngột thay đổi thói quen đại tiện, xuất hiện táo bón mới khởi phát hoặc táo bón xen kẽ các đợt tiêu chảy kéo dài.
- Người bị táo bón nặng kéo dài cần sử dụng nguồn lực y tế thường xuyên, bởi nhóm bệnh nhân này có nguy cơ phát hiện u tân sinh đại trực tràng cao hơn đáng kể so với người bình thường [3].
- Người có tiền sử gia đình mắc ung thư đại trực tràng hoặc polyp đường ruột.
- Người xuất hiện các "dấu hiệu cờ đỏ": đại tiện ra máu, phân có nhầy nhớt, khuôn phân nhỏ dẹt bất thường, sụt cân không rõ nguyên nhân, thiếu máu hoặc đau bụng quặn từng cơn.
- Người có polyp đại trực tràng đã phát hiện qua nội soi cần được theo dõi định kỳ nghiêm ngặt [5].
Khi có các triệu chứng bất thường trên, người bệnh tuyệt đối không tự điều trị tại nhà bằng các loại thuốc xách tay hay thuốc nhuận tràng không rõ nguồn gốc mà cần đến các cơ sở y tế để được bác sĩ chuyên khoa thăm khám và chỉ định nội soi đại tràng khi cần thiết.
Áp dụng thực tế: Thiết lập thói quen vàng bảo vệ hệ tiêu hóa
Để giải tỏa nỗi lo táo bón và giảm thiểu tối đa các nguy cơ tổn thương niêm mạc ruột, bạn nên chủ động xây dựng lối sống lành mạnh thông qua các nguyên tắc sau:
- Điều chỉnh chế độ ăn: Cần kiểm soát lượng chất béo nạp vào hàng ngày, bởi sự kết hợp giữa táo bón và chế độ ăn giàu chất béo làm gia tăng rõ rệt nguy cơ sinh ung thư ruột [6]. Tăng cường các loại rau xanh, ngũ cốc nguyên cám, đậu và các loại quả mọng để cung cấp đủ lượng chất xơ cần thiết, giúp gia tăng thể tích khối phân và rút ngắn thời gian phân lưu lại trong ruột.
- Bổ sung đủ nước: Uống đủ từ 1,5 đến 2 lít nước mỗi ngày để ngăn chặn tình trạng đại tràng rút cạn nước gây khô cứng phân và cô đặc các độc tố [1].
- Vận động thể lực: Duy trì tối thiểu 30 phút tập luyện thể dục thể thao mỗi ngày nhằm kích thích nhu động ruột tự nhiên co bóp nhịp nhàng, hạn chế tình trạng ứ trệ chất thải.
- Rèn luyện phản xạ đại tiện: Tập thói quen đi vệ sinh vào một khung giờ cố định trong ngày, tốt nhất là vào buổi sáng sau khi thức dậy hoặc sau bữa ăn khi nhu động đại tràng hoạt động mạnh nhất. Tuyệt đối không nhịn đi tiêu khi cơ thể có nhu cầu.
- Dùng thuốc đúng cách: Tránh xa việc tự ý sử dụng các thuốc nhuận tràng kích thích chứa anthraquinone kéo dài mà không có sự đồng ý của bác sĩ để hạn chế nguy cơ lắng đọng hắc tố niêm mạc và hình thành polyp [5].
Tóm lại, bản thân táo bón mạn tính không thể khẳng định chắc chắn là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới ung thư đại trực tràng, nhưng nó là chỉ dấu phản ánh lối sống chưa lành mạnh và làm tăng tỷ lệ xuất hiện các khối u tân sinh đường ruột [1, 3, 4]. Thay vì quá lo lắng, mỗi người hãy chủ động điều chỉnh chế độ ăn giảm chất béo, tăng cường vận động và lắng nghe cơ thể để thăm khám kịp thời khi có dấu hiệu bất thường.




