Nhiều người bệnh mắc các bệnh lý mạch vành, huyết khối thường có thói quen tìm kiếm các thảo dược bổ huyết hoặc dưỡng tâm để kết hợp hỗ trợ sức khỏe hàng ngày. Trong đó, đan sâm là một vị thuốc cổ truyền rất quen thuộc, xuất hiện nhiều trong các bài thuốc y học cổ truyền chữa đau tức ngực, hoạt huyết dưỡng não. Tuy nhiên, việc tự ý kết hợp đan sâm khi đang uống các loại thuốc chống đông hoặc chống kết tập tiểu cầu tiềm ẩn những nguy hiểm rất lớn cho tính mạng.
Câu trả lời trực tiếp là người bệnh tuyệt đối không được tự ý phối hợp đan sâm với các thuốc chống đông máu như warfarin hay thuốc chống kết tập tiểu cầu như aspirin. Sự phối hợp này làm tăng nồng độ thuốc trong máu và tăng hiệu lực chống đông một cách mất kiểm soát, dẫn đến xuất huyết nghiêm trọng và đe dọa trực tiếp tính mạng người bệnh.
Đan sâm tác động lên cơ chế đông máu như thế nào?
Đan sâm, tên khoa học là Salvia miltiorrhiza, là phần rễ và thân rễ phơi khô của cây đan sâm, từ lâu đã được sử dụng rộng rãi để điều trị các bệnh xơ vữa động mạch, bệnh mạch máu não và tim mạch [1]. Các tác dụng dược lý hiện đại của đan sâm bao gồm chống đông máu, chống huyết khối, cải thiện vi tuần hoàn, cải thiện huyết động học, chống thiếu máu cục bộ cơ tim và chống oxy hóa [2]. Đan sâm có khả năng tác động vào quá trình cầm máu thông qua nhiều con đường khác nhau [1].
Cụ thể, đan sâm có tác dụng ức chế kết tập tiểu cầu, can thiệp vào con đường đông máu ngoại sinh, thể hiện hoạt tính tương tự kháng thrombin III và thúc đẩy hoạt tính tiêu sợi huyết [1]. Thành phần acid salvianolic A chiết xuất từ đan sâm đã được thử nghiệm in vitro trên tiểu cầu người và chuột, cho thấy khả năng ức chế kết tập tiểu cầu và làm gia tăng mức cyclic adenosine monophosphate (cAMP) trong tiểu cầu được kích hoạt bởi ADP [2]. Thử nghiệm trên động vật ghi nhận acid salvianolic A thể hiện hoạt tính chống huyết khối nhờ tác động lên tiểu cầu và điều hòa lưu biến máu [2].
Bên cạnh tác dụng dược lực học trực tiếp, đan sâm còn gây biến đổi chuyển hóa của các thuốc chống đông dùng kèm [1]. Nghiên cứu chỉ ra đan sâm làm tăng hoạt tính của yếu tố đông máu III và thúc đẩy tiêu sợi huyết, đồng thời làm giảm độ thanh thải của warfarin để khuếch đại tác dụng chống đông của thuốc [2]. Hoạt tính chống kết tập tiểu cầu của đan sâm khi cộng hưởng cùng thuốc chống đông sẽ đẩy cơ thể vào trạng thái máu rất khó đông.
Dược động học bị đảo lộn khi dùng chung warfarin
Warfarin là thuốc chống đông đường uống đối kháng vitamin K, thường được kê đơn để phòng ngừa và điều trị biến cố tắc mạch do huyết khối [3]. Tuy có hiệu quả cao, warfarin có phạm vi điều trị hẹp và biến chứng chảy máu do warfarin là một trong những biến cố bất lợi nghiêm trọng, phổ biến hàng đầu [3]. Tương tác giữa thuốc với thảo dược là mối lo ngại an toàn lớn, đặc biệt đối với thuốc có chỉ số điều trị hẹp như warfarin, có thể gây ra phản ứng có hại đe dọa mạng sống [4].
Các thử nghiệm liều đơn và liều duy trì trên chuột cho thấy đan sâm làm tăng tốc độ hấp thu, tăng diện tích dưới đường cong (AUC), tăng nồng độ đỉnh trong huyết tương và kéo dài thời gian bán thải của cả hai đồng phân R-warfarin và S-warfarin [1]. Đồng thời, đan sâm làm giảm độ thanh thải và giảm thể tích phân bố biểu kiến của cả hai đồng phân warfarin này [1]. Khi kết hợp đan sâm với warfarin trên mô hình động vật, nồng độ đáy của warfarin và chỉ số INR trong máu chuột đều tăng lên đáng kể, làm tăng vọt hiệu lực chống đông máu [2].
Sự kết hợp này dẫn đến hiện tượng đáp ứng chống đông của cơ thể đối với warfarin bị phóng đại quá mức [1]. Do đan sâm vừa gây tương tác dược động học làm thuốc tích tụ nhiều hơn trong cơ thể, vừa gây tương tác dược lực học cộng hưởng chống đông, việc phối hợp đan sâm được khuyến cáo là cần phải tránh ở những bệnh nhân đang điều trị bằng warfarin [1].
Những bằng chứng lâm sàng về nguy cơ xuất huyết
Trong thực hành lâm sàng, đã có ít nhất ba báo cáo ca bệnh ghi nhận tình trạng chống đông máu quá mức nghiêm trọng và các biến chứng chảy máu khi bệnh nhân đang dùng warfarin mạn tính tự ý sử dụng thêm đan sâm [1]. Tình trạng này khiến người bệnh phải nhập viện cấp cứu để kiểm soát lại chỉ số đông máu.
Một nghiên cứu theo dõi trong 9 tháng (1994 - 1995) tại một khoa bệnh tổng quát ở bệnh nhân người Hoa tiếp nhận các trường hợp có chỉ số INR lúc nhập viện lớn hơn 3,0, vượt quá ngưỡng điều trị an toàn thông thường là 2,0 đến 2,5 [5]. Trong số 35 bệnh nhân được xem xét, có 19 người đã sử dụng các loại thuốc hoặc bài thuốc dân gian có khả năng tương tác với warfarin [5]. Kết quả xác định tương tác thuốc - warfarin chắc chắn chịu trách nhiệm ở 6 ca và có khả năng chịu trách nhiệm ở 1 ca, trong đó ghi nhận có trường hợp bệnh nhân dùng kết hợp dầu xoa bóp chứa 15% methyl salicylate cùng với đan sâm (Salvia miltiorrhiza) [5].
Đáng chú ý, 5 trong số 7 bệnh nhân có tương tác thuốc này đã phát triển các triệu chứng xuất huyết thực tế [5]. Nghiên cứu chỉ ra tương tác thuốc chiếm tới 20% trong tổng số bệnh nhân nhập viện có chỉ số INR lớn hơn 3,0 và chiếm 36% (5 trên 14 trường hợp) các bệnh nhân có biến chứng chảy máu [5]. Các biến chứng xuất huyết được y văn ghi nhận từ tương tác giữa warfarin và thảo dược gồm có chảy máu tự phát sau phẫu thuật, hình thành khối máu tụ, nôn ra máu, đi ngoài phân đen, xuất huyết dưới nhện hoặc tụ máu dưới màng cứng [4].
Nguy cơ nhân đôi khi phối hợp cùng thuốc chống kết tập tiểu cầu
Không chỉ riêng warfarin, việc người bệnh dùng chung các thuốc chống huyết khối khác như aspirin cùng thuốc chống đông cũng đối mặt với nguy cơ xuất huyết tăng vọt. Trong một nghiên cứu đoàn hệ lồng ghép bệnh - chứng trên 4.152 bệnh nhân rung nhĩ không do van tim (từ 40 đến 84 tuổi) điều trị warfarin dài hạn trên 3 tháng từ cơ sở dữ liệu tại Anh, có hơn 58% bệnh nhân đã sử dụng các loại thuốc có tiềm năng gây tương tác [6]. Phân tích hồi quy logistic cho thấy việc dùng kết hợp thuốc có tương tác làm tăng nguy cơ chảy máu nghiêm trọng lên 3,4 lần (khoảng tin cậy 95%: 1,4 - 8,5) so với khi chỉ dùng đơn độc warfarin [6].
Đặc biệt, việc dùng kết hợp warfarin cùng với aspirin làm gia tăng nguy cơ chảy máu nghiêm trọng lên gấp 4,5 lần (khoảng tin cậy 95%: 1,1 - 18,1) so với việc chỉ sử dụng warfarin đơn độc sau khi đã hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu [6]. Nghiên cứu tại Bệnh viện Đại học Turku trên 6.772 bệnh nhân nội trú điều trị warfarin cũng chỉ ra tỷ số chênh đã hiệu chỉnh (OR) đối với xuất huyết ở nhóm dùng thuốc ức chế kết tập tiểu cầu phối hợp là 1,6 (khoảng tin cậy 95%: 0,8 - 3,1) [7].
Cơ chế chống huyết khối của đan sâm bản chất là ức chế kết tập tiểu cầu và làm thay đổi huyết động học [2]. Vì vậy, việc bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông hoặc thuốc kháng kết tập tiểu cầu như aspirin mà uống thêm đan sâm sẽ tạo ra cơ chế tác động kép, tương tự như việc gộp nhiều thuốc ức chế tiểu cầu và thuốc chống đông cùng lúc, khiến nguy cơ chảy máu nội tạng hoặc xuất huyết tiêu hóa bùng phát dữ dội.
Hiểu lầm thường gặp khi dùng thảo dược hoạt huyết
Một quan niệm sai lầm rất phổ biến là nhiều người cho rằng các loại thảo mộc có nguồn gốc từ thiên nhiên như đan sâm thì hoàn toàn lành tính và không thể gây hại như tân dược. Nhận thức về các tác dụng bất lợi của thảo dược chữa bệnh hiện chưa thành thói quen và các báo cáo về tác dụng này trong thực hành lâm sàng còn rất ít được quan tâm [4]. Người bệnh thường nghĩ uống thêm đan sâm sẽ giúp thông mạch nhanh hơn, phòng ngừa tai biến tốt hơn mà không biết rằng thảo dược này trực tiếp làm suy giảm khả năng thanh thải thuốc chuyển hóa trong gan [1].
Một hiểu lầm khác là người bệnh tin rằng chỉ cần uống thảo dược cách xa giờ uống thuốc chống đông từ 2 đến 3 tiếng là an toàn. Tuy nhiên, đan sâm tác động làm biến đổi các thông số dược động học của thuốc như làm tăng diện tích dưới đường cong nồng độ thuốc, kéo dài thời gian bán hủy và giảm độ thanh thải của warfarin [1]. Những biến đổi này diễn ra ở cấp độ chuyển hóa mô và kéo dài liên tục nhiều ngày, do đó việc chia khoảng cách giờ uống trong ngày hoàn toàn không loại trừ được nguy cơ quá liều thuốc và chảy máu.
Thêm vào đó, việc tự ý kết hợp nhiều loại thuốc bôi ngoài da, dầu xoa hoặc cao dán có chứa hoạt chất giảm đau cùng các thang thuốc đông y cũng có thể kích hoạt biến cố tương tác nguy hiểm [5]. Người bệnh thường không xem thuốc đông y hay dầu xoa là các tác nhân dược lý có thể gây hại, dẫn đến việc dùng đồng thời mà không hề báo trước cho bác sĩ phụ trách điều trị [5].
Ai nên thận trọng và cách xử lý an toàn
Nhóm người bệnh đầu tiên cần tuyệt đối kiêng dùng đan sâm là những người đang được chỉ định điều trị bằng warfarin để phòng ngừa huyết khối, rung nhĩ hoặc sau thay van tim nhân tạo [1]. Bệnh nhân đang sử dụng aspirin hoặc các thuốc chống kết tập tiểu cầu khác cũng cần tránh xa việc tự ý uống đan sâm do nguy cơ ức chế tiểu cầu hiệp đồng [2]. Ngoài ra, những người bệnh có bệnh lý nền dễ chảy máu như loét dạ dày tá tràng càng phải cẩn trọng đặc biệt, bởi tổn thương sẵn có sẽ rất dễ chuyển thành xuất huyết ồ ạt khi quá liều chống đông [5].
Người bệnh đang dùng thuốc chống đông dài hạn tuyệt đối không được tự ý mua thêm bất kỳ vị thuốc thảo dược, thuốc nam hay thuốc bắc nào để sắc uống hoặc ngâm rượu. Khi đi khám bệnh tại bất kỳ cơ sở y tế nào, người bệnh phải thông báo chi tiết danh sách tất cả các loại thuốc kê đơn, thuốc không kê đơn và thực phẩm chức năng đang dùng cho nhân viên y tế [5]. Các bác sĩ khi kê đơn thuốc chống đông máu cũng cần chủ động hỏi kỹ về thói quen sử dụng thuốc bổ sung của người bệnh để giảm thiểu rủi ro sức khỏe [5], [4].
Nếu người bệnh đã lỡ uống đan sâm trong khi đang duy trì thuốc chống đông, cần ngưng dùng đan sâm ngay lập tức và liên hệ với bác sĩ điều trị để được kiểm tra chỉ số đông máu INR. Người bệnh cần theo dõi sát các dấu hiệu xuất huyết cảnh báo như bầm tím bất thường dưới da, chảy máu chân răng khó cầm, chảy máu cam tái diễn, nước tiểu màu đỏ hoặc đi ngoài phân đen [4]. Khi xuất hiện bất kỳ dấu hiệu chảy máu nào, người bệnh phải đến ngay bệnh viện để được cấp cứu và xử trí kịp thời.
Mặc dù đan sâm là một vị thuốc quý trong y học cổ truyền đối với các bệnh tim mạch, sự kết hợp thiếu hiểu biết giữa dược liệu này với thuốc chống đông máu tây y có thể dẫn tới những hậu quả khôn lường. Hiểu đúng bản chất tương tác dược học và tuân thủ chặt chẽ chỉ định điều trị của bác sĩ chuyên khoa là chìa khóa then chốt giúp người bệnh bảo vệ tính mạng và duy trì hiệu quả điều trị an toàn.
