Khi sốt cao kéo dài hoặc mắc các bệnh gây mất nước như sốt xuất huyết, thói quen của nhiều gia đình là mua ngay các chai nước điện giải, nước thể thao hoặc pha gói bù nước oresol (ORS). Tuy nhiên, đứng trước kệ hàng có cả loại có đường và không đường, nhiều người băn khoăn liệu có nên chọn loại có đường hay phải kiêng đường để tránh hại sức khỏe.
Câu trả lời ngắn gọn là: Dung dịch bù nước và điện giải đường uống bắt buộc phải có đường glucose với tỷ lệ chuẩn xác cùng natri thì cơ thể mới hấp thu được nước và muối vào máu [1]. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc uống các loại nước ngọt, nước trái cây hay nước giải khát đóng chai nhiều đường là tốt, bởi lượng đường quá cao so với muối lại gây tác dụng ngược [1].
Vì sao dung dịch bù điện giải cần có đường glucose?
Ở người trưởng thành bình thường, ruột tiết ra và hấp thu một lượng dịch rất lớn mỗi ngày [1]. Cụ thể, có khoảng 6.500 mL dịch đi vào ruột từ thức ăn, đồ uống kết hợp với dịch tiết tiêu hóa, sau đó được hấp thu gần hết và chỉ còn khoảng 100 mL đào thải qua phân mỗi ngày [1].
Quá trình hấp thu nước thụ động này phụ thuộc vào chênh lệch thẩm thấu được quyết định bởi sự vận chuyển muối natri qua ba cơ chế chính: kênh trao đổi natri/hydro, chênh lệch điện hóa và cơ chế đồng vận chuyển natri gắn với các chất hòa tan hữu cơ như đường glucose [1]. Khi cơ thể gặp tình trạng bệnh lý đường ruột làm rối loạn hấp thu dịch, nhiều cơ chế trong số này bị phá vỡ, nhưng riêng cơ chế đồng vận chuyển natri gắn với glucose vẫn giữ nguyên hoạt động [1].
Đây chính là nền tảng khoa học cốt lõi giúp dung dịch bù nước đường uống (ORS) phát huy tác dụng [1]. Dung dịch dùng để hỗ trợ bù nước bắt buộc phải có mặt đường glucose để đưa muối natri và nước đi qua thành ruột vào hệ tuần hoàn [1]. Nếu không có đủ đường glucose, dung dịch uống vào sẽ không được ruột hấp thu mà chỉ làm tăng thêm lượng dịch đào thải ra ngoài [1].
Tỷ lệ vàng giữa muối natri và đường glucose theo chuẩn WHO
Không phải cứ có đường là bù được nước, mà mấu chốt nằm ở tỷ lệ cân bằng giữa muối natri và đường glucose [1]. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) đã đưa ra công thức muối bù nước đường uống (ORS) chuẩn khuyến nghị sử dụng trên toàn cầu với độ thẩm thấu thấp [1].
Cụ thể, công thức chuẩn của WHO và UNICEF có tổng độ thẩm thấu là 245 mmol/L, trong đó nồng độ đường glucose và muối natri tương đương nhau về số mol (đẳng mol): glucose ở mức 75 mmol/L và natri ở mức 75 mmol/L [1]. Ngoài ra, công thức này còn bao gồm kali 20 mmol/L, citrat 10 mmol/L và clorua 65 mmol/L [1]. Dung dịch bù điện giải chuẩn được ưu tiên lựa chọn trong y khoa chính là loại có chứa glucose với độ thẩm thấu giảm theo đúng tiêu chuẩn này của WHO [2].
Lịch sử y học từng ghi nhận bài học đắt giá về việc pha sai tỷ lệ đường và muối [1]. Dung dịch bù nước đường uống được giới thiệu từ năm 1945, nhưng đến những năm 1950, các loại dung dịch pha sẵn thương mại xuất hiện trên thị trường lại chứa hàm lượng carbohydrate (đường) quá cao, dẫn đến nhiều ca bị tăng natri máu nguy hiểm [1]. Ngược lại, các loại đồ uống có tỷ lệ đường glucose cao hơn nhiều so với natri, điển hình như nước ép trái cây và nước ngọt có gas, sẽ kéo nước vào lòng ruột và làm tăng lượng dịch mất đi [1].
Các nghiên cứu khoa học nói gì về thành phần đường và muối?
Để đi đến công thức chuẩn có nồng độ natri và glucose ở mức 75 mmol/L như hiện nay, giới khoa học đã thực hiện nhiều thử nghiệm lâm sàng qua nhiều thập kỷ nhằm đánh giá hiệu quả và độ an toàn của từng thành phần.
Một thử nghiệm có đối chứng công bố năm 1978 đã đánh giá dung dịch điện giải glucose có nồng độ natri thấp (50 mmol/L) trên nhóm 20 trẻ nhỏ bị mất nước từ vừa đến nặng do tiêu chảy cấp, so sánh với nhóm đối chứng gồm 19 trẻ dưới 2 tuổi dùng dung dịch chuẩn thời điểm đó có nồng độ natri cao (90 mmol/L) [3]. Kết quả cho thấy nhóm dùng nồng độ natri 50 mmol/L bù nước hiệu quả ngang với nhóm dùng mức 90 mmol/L và cả hai nhóm đều không cần truyền dịch tĩnh mạch [3]. Đáng chú ý, nhóm dùng dung dịch natri cao 90 mmol/L có biểu hiện tăng natri máu và phù quanh hốc mắt thường xuyên hơn, trong khi nhóm dùng natri thấp không cần phải uống thêm nước lọc bổ sung [3].
Một nghiên cứu khác năm 1982 theo dõi 7 trẻ nhỏ mất nước nhẹ do tiêu chảy cấp được bù dịch bằng dung dịch chứa hỗn hợp polymer glucose và nồng độ natri cao 90 mmol/L [4]. Dù 6 trong số 7 trẻ được bù nước thành công, hàm lượng natri cao 90 mmol/L bị cho là nguyên nhân gây tăng natri huyết thanh ở 4 trẻ, trong đó 1 trẻ bị tăng natri máu nghiêm trọng kèm theo phân dương tính với glucose [4].
Đến năm 1987, một thử nghiệm ngẫu nhiên trên 62 trẻ từ 2 đến 35 tháng tuổi bị mất nước cấp tính đã so sánh hai nhóm trong 48 giờ: nhóm A dùng dung dịch chứa natri 90 mmol/L và glucose 110 mmol/L; nhóm B dùng dung dịch chứa natri 75 mmol/L và glucose 139 mmol/L [5]. Kết quả lâm sàng và khả năng đưa điện giải máu về mức bình thường ở hai nhóm là tương đương nhau, với 3 trẻ ở mỗi nhóm cần truyền tĩnh mạch [5]. Tuy nhiên, trong 48 giờ thử nghiệm, nhóm A (natri 90 mmol/L) có 8 bệnh nhân bị tăng natri máu nhẹ không triệu chứng, cao gấp đôi so với 4 bệnh nhân ở nhóm B (natri 75 mmol/L) [5].
Về loại đường sử dụng, một thử nghiệm mù đôi ngẫu nhiên năm 1978 trên 51 trẻ mất nước từ 5% đến 10% đã so sánh dung dịch điện giải chứa đường sucrose (đường mía thông thường) với đường glucose [6]. Dù hầu hết bệnh nhi ở cả hai nhóm đều được bù nước thành công, dung dịch dùng đường sucrose làm chậm quá trình điều chỉnh các bất thường điện giải và có tỷ lệ bệnh nhân cần điều trị kéo dài hơn 24 giờ cao hơn [6]. Nghiên cứu kết luận rằng đường sucrose có thể thay thế trong nhiều trường hợp, nhưng khi có sự lựa chọn thì đường glucose vẫn được khuyến cáo ưu tiên [6].
Ngoài ra, các nhà khoa học cũng thử nghiệm kết hợp thêm axit amin hoặc tinh bột. Một thử nghiệm mù đôi năm 1984 trên 25 trẻ mất nước vừa đến nặng dùng dung dịch điện giải glucose có bổ sung glycine so với 26 trẻ ở nhóm chứng chỉ dùng dung dịch điện giải glucose thông thường [7]. Kết quả cho thấy nhóm có thêm glycine giảm đáng kể lượng phân, thời gian bệnh và tổng lượng dịch cần uống để duy trì nước [7]. Tuy nhiên, một tổng quan năm 2017 lưu ý rằng các dung dịch dựa trên polymer sử dụng gạo hoặc lúa mì làm nguồn carbohydrate hiện không được khuyến cáo rộng rãi bằng dung dịch chuẩn chứa glucose độ thẩm thấu thấp của WHO [2].
Hiểu lầm thường gặp: Đánh đồng nước thể thao, nước ngọt với dung dịch bù điện giải y tế
Sai lầm phổ biến nhất của người bệnh khi tự mua đồ uống bù dịch là đánh đồng các loại nước giải khát thể thao (sport drinks), nước ngọt có gas (soda), nước ép trái cây hoặc nước súp gà với dung dịch bù điện giải chuẩn y tế [5, 8].
Các tài liệu y khoa năm 2017 và 2020 khẳng định việc sử dụng nước thể thao, nước trái cây, nước ngọt và nước hầm gà không được khuyến cáo dùng làm dung dịch điều trị mất nước, dù có thể cân nhắc dùng tạm ở những người hoàn toàn không bị mất nước hoặc chỉ mất nước ở mức độ rất nhẹ [2]. Lý do là các loại nước trái cây và nước ngọt có tỷ lệ đường glucose trên natri quá cao, không những không giúp hấp thu nước tối ưu mà còn kéo dịch vào ruột, làm trầm trọng thêm tình trạng mất dịch [1].
Ngay cả khi sử dụng cho mục đích tập luyện thể thao cường độ cao, nhu cầu điện giải cũng khác với khi điều trị bệnh lý [2]. Khi vận động mạnh, cơ thể cần khoảng 200 đến 800 mL chất lỏng mỗi giờ chứa từ 20 đến 30 mEq/L natri kèm theo carbohydrate, đồng thời cần tránh uống quá nhiều nước lọc không chứa natri để phòng ngừa hạ natri máu do gắng sức [2]. Con số 20 đến 30 mEq/L natri trong nước uống thể thao này thấp hơn nhiều so với mức 75 mmol/L natri trong công thức ORS chuẩn của WHO dùng cho người bệnh mất nước [5, 8].
Ai nên thận trọng khi dùng dung dịch điện giải có đường?
Nhiều người lo ngại bệnh nhân đái tháo đường khi bị mất nước không thể uống oresol có đường vì sợ tăng đường huyết. Tuy nhiên, một nghiên cứu tiến cứu phân bổ ngẫu nhiên năm 1994 tại bệnh viện Dhaka (Bangladesh) đã trực tiếp kiểm tra vấn đề này trên 45 bệnh nhân đái tháo đường từ 15 đến 60 tuổi bị tiêu chảy cấp dưới 3 ngày [8].
Các bệnh nhân được chia ngẫu nhiên vào ba nhóm uống dung dịch bù nước chuẩn của WHO (chứa đường glucose), dung dịch từ bột gạo, hoặc dung dịch chứa glycine (không chứa carbohydrate), đồng thời đo đường huyết 3 lần mỗi ngày [8]. Kết quả cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức dao động đường huyết, lượng dịch mất hay thời gian hồi phục giữa cả ba nhóm [8]. Nghiên cứu kết luận dung dịch bù nước chứa đường glucose có thể sử dụng an toàn cho người bệnh đái tháo đường bị mất nước mức độ vừa và nhẹ [8]. Dù vậy, người có bệnh nền đái tháo đường, bệnh thận, tim mạch hoặc huyết áp cao vẫn cần tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị để được theo dõi sát chỉ số đường huyết và điện giải.
Đối với trẻ nhỏ và người có dấu hiệu mất nước nặng, việc tự ý bù nước tại nhà cần hết sức cẩn trọng [2]. Trong các bệnh lý gây mất dịch, dung dịch bù điện giải đường uống thường được ưu tiên hơn truyền dịch tĩnh mạch, ngoại trừ trường hợp bệnh nhân bị mất nước nặng bắt buộc phải can thiệp y tế và truyền dịch tại bệnh viện [2]. Ngoài ra, việc pha dung dịch quá đặc hoặc dùng loại có nồng độ natri quá cao (như mức 90 mmol/L trước đây) có thể dẫn đến nguy cơ tăng natri máu và phù quanh mắt ở trẻ nhỏ [2, 3].
Cách áp dụng thực tế khi chọn mua và sử dụng nước điện giải
Để bù dịch an toàn và hiệu quả khi bị sốt hoặc mất nước, người tiêu dùng cần phân biệt rõ sản phẩm chuẩn y tế và nước giải khát thương mại:
- Đọc kỹ bảng thành phần trước khi mua: Ưu tiên chọn gói bột hoặc chai pha sẵn đạt chuẩn ORS độ thẩm thấu thấp của WHO với tổng độ thẩm thấu 245 mmol/L, chứa đúng tỷ lệ glucose 75 mmol/L và natri 75 mmol/L (cùng kali 20 mmol/L, clorua 65 mmol/L, citrat 10 mmol/L) [5, 8].
- Không tự ý kiêng đường hoàn toàn khi chọn dung dịch bù điện giải: Cần chọn sản phẩm có đường glucose đúng tỷ lệ với muối natri để kích hoạt cơ chế đồng vận chuyển giúp ruột hấp thu nước vào máu [1]. Khi có lựa chọn, hãy ưu tiên sản phẩm dùng đường glucose thay vì đường mía (sucrose) để điều chỉnh điện giải nhanh hơn [6].
- Tránh dùng sai loại đồ uống: Không dùng nước ngọt có gas, nước ép trái cây đóng chai để bù dịch khi đang mất nước vì lượng đường quá cao so với muối sẽ làm thất thoát dịch nhiều hơn [5, 8].
- Đi khám bác sĩ kịp thời: Dung dịch điện giải đường uống chỉ hỗ trợ bù nước và muối, hoàn toàn không phải thuốc chữa khỏi nguyên nhân gây bệnh như sốt xuất huyết hay nhiễm trùng. Nếu người bệnh nôn ói liên tục không uống được, mệt lả hoặc có dấu hiệu mất nước nặng, cần đưa ngay đến cơ sở y tế để bác sĩ thăm khám và chỉ định truyền dịch tĩnh mạch khi cần thiết [2].
Tóm lại, khi cần bù dịch do sốt hoặc mất nước, bạn nên chọn dung dịch điện giải có chứa đường glucose nhưng phải đảm bảo đúng tỷ lệ cân bằng với muối natri theo chuẩn y tế của WHO [5, 8]. Việc hiểu đúng vai trò của đường glucose trong cơ chế hấp thu nước sẽ giúp người bệnh tránh được hai thái cực sai lầm: hoặc kiêng đường cực đoan khiến cơ thể không hấp thu được điện giải, hoặc uống nhầm các loại nước giải khát quá nhiều đường gây hại cho sức khỏe [1].




