Mỗi khi thời tiết giao mùa, nhiều người thường rỉ tai nhau tìm mua các loại thảo dược ngoại nhập với hy vọng chặn đứng cơn hắt hơi, sổ mũi ngay từ đầu. Trong số đó, thảo dược goldenseal thường được quảng cáo như một giải pháp tự nhiên giúp đánh bay cảm cúm nhanh chóng.

Tuy nhiên, thực tế khoa học lại khác xa lời đồn. Hiện không có bằng chứng lâm sàng nào trong các dữ liệu đối chứng cho thấy goldenseal trị dứt được cảm cúm, bởi cảm lạnh vốn là bệnh tự giới hạn do hàng trăm loại virus gây ra và các phương pháp hiện có nhìn chung chỉ dừng ở mức hỗ trợ kiểm soát triệu chứng [1] [2] [3].

Thảo dược goldenseal thực chất là gì?

Chiết xuất từ rễ cây goldenseal (tên khoa học là Hydrastis canadensis L.) từ lâu đã được sử dụng phổ biến như một loại thuốc thảo dược cho các rối loạn tiêu hóa và nhiễm trùng đường hô hấp trên [3]. Nhờ sự phổ biến này, nhiều người tiêu dùng mặc định xem đây là "kháng sinh tự nhiên" trị bách bệnh hô hấp.

Trong chiết xuất rễ cây goldenseal có hai thành phần hoạt chất chính thuộc nhóm alkaloid là berberine và hydrastine [3]. Một nghiên cứu công bố năm 2005 đã mô tả phương pháp điện di vùng mao quản (CZE) với đầu dò tia cực tím ở bước sóng 225 nm để định lượng nhanh hai chất berberine và hydrastine trong các chế phẩm thảo dược chứa chiết xuất rễ goldenseal [3].

Trong nghiên cứu kiểm soát chất lượng năm 2005 này, các nhà khoa học dùng tritoqualine (một thuốc kháng histamine có cấu trúc phthalidisoquinoline giống hydrastine) làm chất chuẩn nội, sử dụng dung dịch đệm chạy gồm hỗn hợp tỷ lệ 1:5 của ammonium acetate nồng độ 500 mM (điều chỉnh về độ pH 3,4 bằng acid acetic) và methanol [3]. Kết quả xác nhận phương pháp có giới hạn phát hiện đạt 1,0 microg/mL, độ tuyến tính nằm trong khoảng từ 2,5 đến 500 microg/mL và phân tích được cả hai alkaloid trong vòng 8 phút [3]. Dù vậy, nghiên cứu này chỉ giải quyết bài toán đo lường chất lượng dược liệu trong phòng thí nghiệm chứ không chứng minh hiệu quả diệt virus trên người bệnh [3].

Vì sao không có thuốc trị dứt điểm cảm lạnh?

Để hiểu vì sao một loại thảo dược khó lòng "trị dứt" cảm cúm như lời đồn, cần nhìn vào bản chất của bệnh. Nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính chiếm tới 20-40% lượt khám ngoại trú và 12-35% lượt nhập viện tại bệnh viện đa khoa [4]. Trong đó, các nhiễm trùng đường hô hấp trên (gồm viêm mũi họng, viêm họng, viêm amidan và viêm tai giữa) chiếm tới 87,5% tổng số đợt nhiễm trùng hô hấp [4].

Thủ phạm của cảm lạnh thông thường là sự tấn công của một trong số hơn 200 loại virus đường hô hấp đã biết, điển hình là rhinovirus, coronavirus, virus cúm (influenza), adenovirus, parainfluenza, virus hợp bào hô hấp (RSV) và enterovirus [2]. Sau khi xâm nhập, virus được vận chuyển từ mũi ra sau vòm họng, nơi quá trình nhiễm trùng niêm mạc bắt đầu hình thành [2]. Chính sự đa dạng của các mầm bệnh virus đường hô hấp này đã làm thất bại mọi nỗ lực tìm kiếm một phương pháp điều trị vạn năng [2].

Thời gian ủ bệnh của nhiễm trùng đường hô hấp trên không biến chứng dao động từ 48 đến 72 giờ [5]. Người bệnh thường có biểu hiện chảy nước mũi, nghẹt mũi, hắt hơi, đau hoặc rát họng và ho [5]. Ở giai đoạn sớm, triệu chứng có thể rất nhẹ, chỉ mệt mỏi và khó chịu ở mũi, đôi khi sốt nhẹ nhưng người lớn hiếm khi tăng thân nhiệt [5].

Diễn tiến tự khỏi của cơ thể khi nhiễm virus

Nhiều người uống thảo dược vài ngày thấy hết bệnh liền tin rằng thảo dược đó có phép màu, nhưng thực chất cảm lạnh là bệnh tự giới hạn [2]. Một nghiên cứu công bố năm 2001 đã theo dõi đường hô hấp dưới ở 76 người trưởng thành trẻ tuổi khỏe mạnh bị cảm lạnh thông thường [6]. Kết quả chẩn đoán xác định nhiễm virus ở 56 người (chiếm 74%) trong tổng số 76 đối tượng, riêng rhinovirus được phát hiện ở 42 người (chiếm 55%) [6].

Trong nghiên cứu năm 2001 này, các bác sĩ tiến hành khám lâm sàng vào các ngày thứ 1, 7 và 21, đồng thời người bệnh tự ghi nhật ký triệu chứng trong 20 ngày [6]. Có 40 người được chụp X-quang ngực và chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao (HRCT) vào ngày thứ 7; 36 bệnh nhân được đo chức năng hô hấp có nghiệm pháp giãn phế quản vào ngày thứ 7 và 21 [6]. Kết quả cho thấy thời gian ho trung bình là 8,4 ngày (độ lệch chuẩn 6,5 ngày) và thời gian khạc đờm trung bình là 5,9 ngày (độ lệch chuẩn 6,4 ngày) [6].

Đáng chú ý, việc nghe phổi không phát hiện bất thường, phim chụp X-quang và HRCT không thấy tổn thương phổi liên quan đến cảm lạnh [6]. Các chỉ số lưu lượng đỉnh thở ra, thể tích thở ra gắng sức trong 1 giây hay dung tích sống gắng sức sau nghiệm pháp giãn phế quản vào ngày 7 và 21 đều không có mức tăng đáng kể về mặt lâm sàng [6]. Toàn bộ 76 bệnh nhân đều hồi phục lâm sàng trong vòng 21 ngày mà không cần dùng thuốc kháng khuẩn [6].

Các nghiên cứu thử nghiệm can thiệp nói gì?

Cho đến nay, các phương pháp điều trị hiện có chỉ đạt hiệu quả hạn chế trong việc ức chế triệu chứng cũng như rút ngắn thời gian bị cảm lạnh [1]. Thay vì trông chờ vào goldenseal, y học đã thử nghiệm nhiều hoạt chất khác nhau. Một báo cáo công bố năm 2023 ghi nhận 4 ca bệnh cảm lạnh thông thường, trong đó 3 người tự dùng tổ hợp naproxen và fexofenadine (mã SJP-002) [1].

Kết quả của 1 người dùng thuốc được đem so sánh với người phối ngẫu bị cảm nhưng không dùng SJP-002, còn 2 người kia tự so sánh mức độ nặng của triệu chứng với đợt cảm lạnh trước đó của chính họ khi không dùng SJP-002 [1]. Báo cáo sơ bộ này thấy rằng SJP-002 giúp giảm hai phần ba mức độ nặng của triệu chứng và giảm khoảng một nửa thời gian đợt cảm lạnh, nhưng tác giả nhấn mạnh cần phải nghiên cứu thêm trong các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược [1].

Một thử nghiệm ngẫu nhiên, tiến cứu, nhóm song song, mù đơn công bố năm 2022 lại đánh giá việc can thiệp sớm bằng xịt họng glycerol chứa enzyme trypsin cá tuyết thích nghi lạnh (GCTS) — chất có khả năng bất hoạt virus cảm lạnh trong ống nghiệm và giảm tải lượng rhinovirus ở họng người sau khi gây nhiễm [2]. Người lớn tham gia tự chẩn đoán ở dấu hiệu cảm lạnh đầu tiên, chia làm nhóm xịt 6 lần/ngày hoặc nhóm đối chứng không điều trị, theo dõi qua thang điểm triệu chứng Jackson và miền chất lượng cuộc sống của bộ câu hỏi WURSS-21 có 9 mục trong 12 ngày (tính diện tích dưới đường cong AUC1-12) [2].

Kết quả thử nghiệm năm 2022 cho thấy nhóm dùng xịt họng giảm triệu chứng với chỉ số AUC1-12 của điểm Jackson là 45,1 (cộng trừ 32,5) so với 53,8 (cộng trừ 35,7) ở nhóm chứng (p = 0,023) [2]. Điểm AUC1-12 của WURSS-21 cũng cải thiện đạt 113,6 (cộng trừ 107,7) so với 152,7 (cộng trừ 126,3) ở nhóm chứng (p = 0,006), đồng thời tỷ lệ người phải dùng thuốc cứu trợ trong 4 ngày đầu ở nhóm điều trị thấp hơn, ở mức 35,3% so với 50,4% ở nhóm chứng (p = 0,014) [2].

Ngay cả một vi chất nổi tiếng như vitamin C (acid ascorbic — vitamin tan trong nước cần thiết để tạo collagen, sụn, hấp thu sắt và tạo mạch máu, có tự nhiên trong trái cây họ cam quýt và rau củ) cũng trải qua nhiều tranh cãi từ sau cuốn sách năm 1970 của nhà khoa học đạt giải Nobel Linus Pauling [7]. Dù các đánh giá ban đầu cho rằng bổ sung vitamin C liều từ 1 g/ngày trở lên giúp giảm thời gian hoặc triệu chứng cảm lạnh, một phân tích gộp của nhóm Cochrane năm 2007 đã kiểm tra lại liều từ 0,2 g/ngày trở lên [7]. Phân tích dữ liệu từ 11 thử nghiệm với 3.294 đợt cảm lạnh (bắt đầu uống khi khởi phát triệu chứng) cho thấy không có bằng chứng thuyết phục về việc giảm thời gian bệnh, và dữ liệu từ 8 nhánh thử nghiệm với 2.753 đợt bệnh cũng không thấy sự khác biệt có ý nghĩa về mức độ nặng giữa nhóm dùng vitamin C và giả dược [7]. Mặt khác, tài liệu năm 2010 ghi nhận thảo dược A. paniculata dùng riêng lẻ hoặc kết hợp với E. senticosus có thể có hiệu quả cho nhiễm trùng hô hấp trên cấp tính không biến chứng [7].

Những hiểu lầm tai hại khi tự điều trị

Hiểu lầm phổ biến nhất là thấy nước mũi đổi màu liền vội vã tìm thuốc kháng khuẩn hoặc thảo dược truyền miệng. Thực tế, dịch mũi ban đầu trong và loãng, sau đó chuyển sang giai đoạn đặc nhầy, đục và đổi màu (trắng, vàng, xanh) [5]. Màu sắc của dịch tiết này hoàn toàn không phải là yếu tố dự báo nhiễm trùng do vi khuẩn [5].

Mặc dù các bệnh nhiễm trùng hô hấp trên và viêm phế quản cấp là chỉ định kê đơn kháng sinh ngoại trú hàng đầu, đại đa số trường hợp lại do virus và không cần dùng thuốc kháng khuẩn, trừ khi có biến chứng viêm tai giữa cấp có tràn dịch, viêm amidan, viêm xoang hoặc nhiễm trùng hô hấp dưới [5] [4]. Biến chứng viêm xoang ước tính xảy ra ở 0,5-2% các ca cảm lạnh, nhưng rất khó phân biệt những thay đổi ở xoang cạnh mũi là biến chứng vi khuẩn thực sự hay chỉ là diễn tiến tự nhiên của bệnh; phần lớn viêm mũi xoang là do virus và tự khỏi [8] [4].

Khi có bội nhiễm vi khuẩn gây viêm xoang, các tác nhân phổ biến nhất là S. pneumoniae, H. influenzae, M. catarrhalis, S. aureus và S. pyogenes; lúc này bác sĩ mới chỉ định kháng sinh đầu tay là amoxycillin, hoặc thuốc thay thế như cefaclor, cephalexin (dùng đầu tay nếu tái phát hoặc mạn tính) [4]. Tương tự, viêm họng cấp chủ yếu do virus, chỉ khoảng 15% đợt bệnh là do liên cầu khuẩn tan huyết beta nhóm A (GABS) cần dùng kháng sinh sớm (ưu tiên penicillin trong 10-14 ngày, hoặc thay thế bằng cephalosporin đường uống như cefaclor, cephalexin, amoxicillin hay nhóm macrolide) để ngừa biến chứng sốt thấp khớp cấp [4].

Ai nên thận trọng khi mắc cảm lạnh?

Với người trẻ khỏe mạnh, cảm lạnh hiếm khi gây bất thường ở đường hô hấp dưới, nhưng một số nhóm có bệnh nền tuyệt đối không nên tự ý dùng thảo dược truyền miệng mà bỏ qua theo dõi y tế [6]. Các nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ rõ ràng giữa nhiễm virus đường hô hấp và các đợt kịch phát cấp tính của bệnh hen suyễn ở cả người lớn lẫn trẻ em [8]. Trong một nghiên cứu ở bệnh nhân người lớn mắc hen suyễn, triệu chứng cảm lạnh được ghi nhận ở 80% các đợt thở khò khè hoặc khó thở, và rhinovirus chiếm khoảng 60% các đợt kịch phát hen xác định được nguyên nhân virus [8].

Người cao tuổi cũng là nhóm nguy cơ cao thường bị đánh giá thấp mức độ bệnh tật do các virus hô hấp ngoài cúm [8]. Kết quả từ các nghiên cứu giám sát chỉ ra rằng hai phần ba số bệnh nhân cao tuổi bị cảm lạnh có nguy cơ tiến triển thành bệnh đường hô hấp dưới [8]. Ngoài ra, viêm phổi đi kèm nhiễm virus hô hấp trên thường là biến chứng vi khuẩn thực sự hoặc do virus lan xuống phổi, đặc biệt tình trạng nhiễm trùng hỗn hợp cả virus lẫn vi khuẩn rất phổ biến ở trẻ em [8].

Những người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là một nhóm nguy cơ quan trọng khác [8]. Dù tần suất mắc cảm lạnh ở người có và không có COPD là tương tự nhau, việc phải sử dụng nguồn lực y tế bao gồm nhập viện và khám cấp cứu trong các đợt nhiễm virus hô hấp lại tăng lên đáng kể ở bệnh nhân COPD [8].

Chăm sóc thực tế và an toàn khi bị cảm

Thay vì tìm kiếm các sản phẩm chiết xuất rễ goldenseal chưa rõ hiệu quả diệt virus trên lâm sàng, người bệnh nên tập trung vào việc nghỉ ngơi và chăm sóc triệu chứng đúng cách [3]. Vì bệnh do hơn 200 loại virus gây ra và thường tự khỏi trong vòng 21 ngày ở người khỏe mạnh, mục tiêu hợp lý nhất là giúp cơ thể dễ chịu hơn trong thời gian hệ miễn dịch làm việc [6] [2].

Người bệnh có thể uống đủ nước ấm, ăn uống cân bằng với các thực phẩm giàu dinh dưỡng như rau củ và trái cây họ cam quýt để cung cấp vitamin C tự nhiên cho cơ thể [7]. Nếu muốn sử dụng các biện pháp giảm nhẹ triệu chứng tại chỗ ở vùng họng hoặc thuốc giảm đau, kháng histamine khi mới chớm bệnh, người dùng nên tham khảo ý kiến nhân viên y tế để chọn sản phẩm đã qua thử nghiệm lâm sàng [1] [2].

Không có loại thảo dược nào là "thần dược" xóa sổ ngay lập tức cơn cảm cúm do virus. Hiểu đúng bản chất tự giới hạn của bệnh sẽ giúp bạn tránh lãng phí tiền bạc vào những lời đồn thổi và không lạm dụng thuốc kháng sinh khi chưa cần thiết [4] [2]. Đối với người cao tuổi, trẻ nhỏ hoặc người có bệnh nền như hen suyễn, COPD, việc hỏi ý kiến bác sĩ ngay khi có dấu hiệu bất thường là nguyên tắc an toàn quan trọng nhất [8].