Nhiều người khi đi khám sức khỏe định kỳ hoặc xét nghiệm vi chất thường chỉ lo lắng bản thân bị thiếu hụt vitamin. Tuy nhiên, tình huống nhận về kết quả xét nghiệm nồng độ vitamin B12 (cobalamin) tăng vọt vượt ngưỡng tham chiếu, dù không hề sử dụng thuốc bổ hay thực phẩm chức năng, lại là điều khiến không ít người băn khoăn.

Nếu không xuất phát từ việc bổ sung quá liều qua đường uống hoặc đường tiêm, nồng độ vitamin B12 trong máu tăng cao bất thường là một dấu hiệu cảnh báo bệnh lý quan trọng [1]. Hiện tượng này thường liên quan mật thiết đến các tổn thương tại gan, suy giảm chức năng thận, các rối loạn tăng sinh huyết học ác tính hoặc khối u đặc [1], [2].

Chỉ số vitamin B12 trong máu thế nào là cao bất thường?

Trong xét nghiệm lâm sàng thông thường, nồng độ vitamin B12 toàn phần trong huyết thanh được đo lường nhằm đánh giá tình trạng vi chất của cơ thể [3], [2]. Mặc dù chưa có sự đồng thuận tuyệt đối về một ngưỡng cố định duy nhất giữa các phòng xét nghiệm, mức giới hạn trên thông thường dao động quanh khoảng 1000 ± 100 ng/L (tương đương 738 ± 73,8 pmol/L) [2]. Ở một số hệ thống máy phân tích khác, giới hạn trên bình thường có thể được ấn định ở mức 771 pg/mL [4].

Tình trạng tăng nồng độ vitamin B12 trong máu (hypercobalaminemia) được xác định khi chỉ số vượt qua ngưỡng tham chiếu trên của phòng xét nghiệm [1], [2]. Trên thực tế lâm sàng, đây là một bất thường khá phổ biến nhưng lại thường xuyên bị xem nhẹ hoặc bỏ sót [1], [5].

Nhiều người lầm tưởng rằng vitamin B12 là loại vitamin tan trong nước nên lượng dư thừa sẽ nhanh chóng đào thải vô hại qua nước tiểu. Quan niệm này chỉ đúng khi cơ thể tiếp nhận vitamin B12 từ ngoài vào ở người khỏe mạnh, nhưng lại sai lầm nếu nồng độ chất này tự tăng cao do quá trình giải phóng nội tại từ các cơ quan bị tổn thương [1], [6]. Việc nồng độ cobalamin tăng vọt mà không rõ nguyên nhân ngoại sinh đòi hỏi người bệnh phải được thăm khám kỹ lưỡng để loại trừ những bệnh lý tiềm ẩn nguy hiểm [1], [2].

Nghịch lý vitamin B12: Máu thừa nhưng tế bào vẫn thiếu

Một trong những khía cạnh lâm sàng gây bất ngờ nhất là hiện tượng thừa vitamin B12 bề mặt nhưng thực chất lại thiếu hụt ở cấp độ tế bào [1], [7]. Về mặt sinh lý, vitamin B12 lưu hành trong máu dưới dạng gắn kết với các protein vận chuyển chuyên biệt [3], [7]. Trong đó, chỉ có một phần nhỏ gắn với transcobalamin (tạo thành holo-transcobalamin hay B12 hoạt tính) là có thể đi vào mô và phục vụ các quá trình chuyển hóa tế bào [3].

Khi các protein liên kết bị biến đổi hoặc lượng haptocorrin tăng cao bất thường, lượng vitamin B12 toàn phần đo được trong huyết thanh tăng vọt nhưng tế bào lại không tiếp nhận và sử dụng được [1], [3]. Hiện tượng này tạo nên tình trạng thiếu hụt vitamin B12 chức năng, đồng nghĩa với việc bệnh nhân dù có chỉ số xét nghiệm máu cao nhưng vẫn xuất hiện các triệu chứng thiếu hụt như tê bì thần kinh hay mệt mỏi [1], [5].

Bên cạnh đó, y văn ghi nhận hiện tượng "macro-B12", xảy ra khi các protein liên kết vitamin B12 tạo phức hợp miễn dịch với kháng thể globulin [7]. Phức hợp phân tử lớn này lưu lại lâu trong tuần hoàn, làm kết quả xét nghiệm định lượng B12 tăng giả tạo kéo dài và che giấu tình trạng thiếu hụt B12 thực sự của người bệnh [7]. Do đó, chỉ số xét nghiệm máu toàn phần cao không đồng nghĩa với việc cơ thể đang thừa thãi dưỡng chất này ở các cơ quan đích [1], [7].

Bệnh lý về gan: Nguồn dự trữ vitamin B12 bị tổn thương

Gan là cơ quan chính đảm nhiệm chức năng lưu trữ vitamin B12 cho toàn bộ cơ thể. Khi tế bào gan bị viêm, thoái hóa hoặc hoại tử cấp tính hay mạn tính, "kho chứa" này bị phá vỡ, dẫn tới việc giải phóng ồ ạt vitamin B12 vào dòng máu [3], [6].

Cơ chế bệnh sinh chỉ ra hai nguyên nhân chính khiến B12 tăng cao ở bệnh nhân gan: thứ nhất là sự rò rỉ holo-haptocorrin từ các tế bào gan bị tổn thương vào tuần hoàn máu; thứ hai là khả năng thanh thải holo-haptocorrin của các tế bào gan bị suy giảm khiến lượng chất này tồn đọng trong máu [3]. Nồng độ vitamin B12 trong huyết thanh tỷ lệ thuận với mức độ nghiêm trọng và diễn tiến tiên lượng của bệnh gan [6].

Một nghiên cứu quan sát theo dõi trong 6 tháng tại Ấn Độ trên 50 bệnh nhân mắc bệnh gan mạn tính (độ tuổi trung bình 50,80 ± 10,35) cho thấy nồng độ vitamin B12 toàn phần trung bình ở nhóm bệnh nhân này lên tới 1639 ± 504 pg/ml, cao hơn rõ rệt so với mức 650 ± 300 pg/ml ở người bình thường [6]. Nghiên cứu cũng ghi nhận sự khác biệt theo mức độ suy gan: bệnh nhân phân loại xơ gan Child-Pugh C có nồng độ B12 trung bình là 1858 ± 359 pg/mL, cao hơn hẳn nhóm Child-Pugh B với 1076 ± 370 pg/mL [6]. Đáng chú ý, trong số 50 bệnh nhân này có 4 trường hợp tử vong với nồng độ vitamin B12 trung bình lên tới 2113 ± 112 pg/ml [6].

Ngoài ra, các dữ liệu phân tích hóa sinh cũng ghi nhận mối tương quan thuận giữa nồng độ vitamin B12 trong máu với các chỉ số men gan như AST, GGT và bilirubin trực tiếp [4]. Ngược lại, chỉ số này tương quan nghịch với nồng độ albumin huyết thanh – một thước đo phản ánh chức năng tổng hợp của gan [4].

Cảnh báo suy giảm chức năng thận và bệnh lý huyết học

Bên cạnh gan, thận đóng vai trò quan trọng trong việc đào thải và điều hòa các chất chuyển hóa. Khi người bệnh mắc bệnh thận mạn tính (CKD), sự suy giảm chức năng lọc của cầu thận làm giảm khả năng bài tiết các phức hợp liên kết vitamin B12, từ đó dẫn tới tích tụ cobalamin trong huyết thanh [3], [2]. Các bệnh nhân suy thận mạn tính không dùng thuốc bổ sung vẫn thường xuyên ghi nhận tình trạng tăng nồng độ vitamin B12 máu cùng với sự gia tăng protein haptocorrin [3].

Đặc biệt, hệ thống huyết học là một trong những nguồn phát sinh chỉ số B12 cao bất thường mà giới chuyên môn đặc biệt cảnh giác [1], [8]. Các bệnh lý huyết học ác tính, đặc biệt là hội chứng tăng sinh tủy và bệnh bạch cầu (hemoblastosis), kích thích sản sinh quá mức các tế bào máu non và tế bào bạch cầu [5], [2].

Các tế bào này giải phóng một lượng lớn protein mang transcobalamin I và III vào dòng máu, làm tăng khả năng gắn kết và giữ lại vitamin B12 trong lòng mạch [3], [2]. Tình trạng này khiến nồng độ B12 huyết thanh tăng vọt nhưng không phản ánh nhu cầu dinh dưỡng thực tế, biến nó thành một dấu ấn cận lâm sàng quan trọng để phát hiện sớm các rối loạn sinh tủy và ác tính huyết học [1], [5].

Dấu hiệu chỉ điểm tiềm ẩn của các khối u ác tính

Mối liên hệ giữa chỉ số vitamin B12 tăng cao không rõ lý do và sự hiện diện của các khối u ác tính dạng đặc đã được nhiều công trình khoa học chứng minh [8], [2]. Khi một người có lượng B12 trong máu tăng vượt trội mà không mắc bệnh gan rõ rệt hay không uống thuốc bổ, nguy cơ ung thư cần được đưa vào diện khảo sát [8], [2].

Một nghiên cứu bệnh chứng tiến hành năm 2020 so sánh 785 bệnh nhân có nồng độ B12 ≥ 1000 ng/L với 785 người đối chứng khỏe mạnh (B12 < 1000 ng/L) đã làm rõ vấn đề này [2]. Sau khi hiệu chỉnh toàn bộ các yếu tố gây nhiễu như bệnh gan, suy thận, bệnh tủy xương và việc dùng thuốc bổ, kết quả cho thấy mức B12 ≥ 1000 ng/L làm tăng nguy cơ mắc ung thư tạng đặc chưa di căn lên 1,96 lần (khoảng tin cậy 95%: 1,18 - 3,25) [2]. Đặc biệt, đối với các trường hợp ung thư tạng đặc đã di căn, nguy cơ này tăng vọt lên 4,21 lần (khoảng tin cậy 95%: 2,67 - 6,64) [2]. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nồng độ vitamin B12 càng tăng cao thì mức độ gắn kết với nguy cơ ung thư di căn càng mạnh [2].

Trong một nghiên cứu hồi cứu khác trên 4.800 người, các nhà khoa học phát hiện 345 trường hợp (chiếm 7,1%) có nồng độ B12 vượt mức 1000 pg/mL [8]. Sau khi loại trừ các trường hợp dùng thuốc bổ sung, thiếu dữ liệu hoặc đã biết ung thư từ trước, đoàn hệ gồm 250 bệnh nhân được theo dõi với thời gian trung vị 22 tháng [8]. Kết quả ghi nhận có 59 người (23,6%) mắc bệnh gan cấu trúc, 44 người (18,2%) phát hiện ung thư tạng đặc và 17 người (7,1%) mắc bệnh lý huyết học ác tính [8].

Thời gian trung bình từ khi phát hiện nồng độ B12 tăng cao tình cờ đến lúc chẩn đoán xác định ung thư là khoảng 10 tháng [8]. Thời gian trung vị dẫn đến chẩn đoán khối u ở nhóm có B12 cao ngắn hơn đáng kể so với nhóm chứng (13 tháng so với 51 tháng) [8]. Phân tích đa biến khẳng định tình trạng tăng B12 máu (tỷ số nguy cơ HR 11,8; khoảng tin cậy 95%: 2,8 - 49,6) cùng với thói quen hút thuốc lá (HR 4,0; khoảng tin cậy 95%: 2,15 - 7,59) là hai yếu tố độc lập dự báo nguy cơ phát triển khối u ác tính [8].

Các nghiên cứu khoa học ghi nhận thực tế ra sao?

Một nghiên cứu cắt ngang công bố năm 2025 thực hiện tại Thành phố Y khoa King Salman (KSAMC) đã thu thập dữ liệu từ 3.511 hồ sơ xét nghiệm trong vòng 1 năm để khảo sát tần suất các bệnh đồng mắc ở bệnh nhân có nồng độ vitamin B12 vượt ngưỡng 771 pg/mL [4]. Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường đang dùng bổ sung vitamin B12 chiếm tới 53,2% tổng số ca tăng B12 máu [4].

Tuy nhiên, bên cạnh nhóm dùng thuốc bổ, nghiên cứu cũng ghi nhận sự xuất hiện của hàng loạt bệnh lý nền đi kèm gồm bệnh gan, rối loạn huyết học, bệnh phổi, suy giảm chức năng thận, rối loạn tuyến giáp, bệnh thần kinh và các loại khối u đặc [4]. Đa số các bệnh lý đi kèm này có tính chất lành tính, tập trung chủ yếu ở nhóm nữ giới từ 50 đến 70 tuổi [4]. Điểm hạn chế của nghiên cứu là thiết kế cắt ngang chưa thể khẳng định hoàn toàn mối quan hệ nhân quả trực tiếp theo thời gian giữa từng bệnh lý đơn lẻ và nồng độ vitamin [4].

Mặt khác, nghiên cứu về xét nghiệm B12 hoạt tính công bố năm 2022 đã so sánh hiệu quả giữa xét nghiệm B12 toàn phần và B12 hoạt tính (holo-transcobalamin) [3]. Trong nhóm bệnh nhân có nồng độ B12 toàn phần tăng cao, chỉ có 16,6% (3 trên 18 người) có tiền sử bệnh lý thần kinh và đang dùng vitamin B12 bổ sung [3]. Những bệnh nhân còn lại không dùng thuốc nhưng chỉ số vẫn cao đều mắc các bệnh lý thực thể: 6 người bị bệnh thận mạn, 5 người viêm gan virus và 4 người bị thiếu máu do bệnh ác tính [3]. Nghiên cứu cũng lưu ý giới hạn rằng các xét nghiệm thông thường chỉ đo B12 toàn phần nên rất dễ tạo ra kết quả đánh giá sai lệch nếu không đo lường chuyên biệt dạng hoạt tính [3].

Những ai cần đặc biệt thận trọng khi có kết quả B12 cao?

Nếu bạn hoàn toàn không dùng viên uống vi chất, không tiêm thuốc bổ nhóm B liều cao trong thời gian gần đây nhưng kết quả xét nghiệm lại cho thấy chỉ số B12 vượt ngưỡng 1000 pg/mL hoặc 1000 ng/L, đây là dấu hiệu cần được quan tâm đúng mức [8], [2].

Các nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng bao gồm:

  • Người có kèm theo bất thường trên men gan (AST, GGT tăng) hoặc bilirubin tăng cao, báo hiệu tế bào gan đang bị phá hủy và rò rỉ vi chất [4], [6].
  • Người có tiền sử viêm gan virus, xơ gan hoặc bệnh thận mạn tính [3], [6].
  • Người hút thuốc lá lâu năm có chỉ số B12 cao tình cờ, bởi sự kết hợp này làm tăng vọt nguy cơ xuất hiện các khối u ác tính [8].
  • Người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ trong độ tuổi từ 50 đến 70 tuổi [4].
  • Người có kết quả B12 máu cao nhưng vẫn xuất hiện các biểu hiện lâm sàng như tê bì đầu chi, giảm cảm giác, mệt mỏi mạn tính hoặc sụt cân không rõ lý do [1], [7].

Cần làm gì khi nhận kết quả xét nghiệm B12 tăng cao?

Khi nhận thấy chỉ số vitamin B12 trong máu tăng cao, thái độ ứng xử đúng đắn nhất là bình tĩnh và không vội vàng tự đưa ra kết luận tiêu cực. Bạn cần rà soát lại toàn bộ danh mục thuốc, thực phẩm chức năng, nước tăng lực hoặc sữa dinh dưỡng đang sử dụng, bởi việc vô tình nạp lượng lớn B12 qua đường uống là nguyên nhân ngoại sinh rất hay gặp [4], [7].

Nếu xác định không dùng bất kỳ sản phẩm bổ sung nào, bạn hãy mang kết quả tới gặp bác sĩ chuyên khoa nội hoặc huyết học để được đánh giá toàn diện [1], [4]. Bác sĩ có thể chỉ định thêm các xét nghiệm chuyên sâu như:

  • Khảo sát chức năng gan và thận toàn diện (AST, ALT, GGT, Bilirubin, Albumin, Creatinine máu) [4], [6].
  • Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi nhằm kiểm tra số lượng hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu để tầm soát bệnh lý tủy xương [4], [2].
  • Định lượng vitamin B12 hoạt tính (holo-transcobalamin) hoặc các chỉ số chuyển hóa liên quan nhằm phân biệt giữa tăng B12 thực chất và tăng giả tạo [3], [7].
  • Các biện pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm ổ bụng, chụp cắt lớp vi tính hoặc nội soi tùy theo triệu chứng gợi ý để tầm soát sớm các khối u đặc tiềm ẩn trong vòng một năm sau khi phát hiện chỉ số B12 cao [8], [2].

Chỉ số vitamin B12 trong máu không chỉ là thước đo tình trạng dinh dưỡng mà còn đóng vai trò như một dấu ấn cảnh báo sớm nhiều bệnh lý tiềm ẩn nghiêm trọng tại gan, thận hay hệ huyết học [1], [5]. Việc theo dõi và tham vấn y khoa kịp thời khi phát hiện bất thường sẽ giúp phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, nâng cao hiệu quả điều trị và bảo vệ sức khỏe lâu dài.