Theo kinh nghiệm nhân dân, ô dược được dùng làm thuốc chữa đau bụng, ăn không tiêu, nôn mửa, trẻ em đau bụng giun, dãi dám, nhức dầu chóng mặt, đái vặt. Liều dùng: 2 – 6 g, dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột.
Đơn thuốc có ô dược
Ô hương lán: Ô dược-hương phụ, hai vị bằng nhau, tán nhỏ. Mỗi lần dùng 6-8g bột này, Có thể sắc uống. Tùy theo các bệnh mà thay đổi thêm các vị khác sau đây: Ví dụ: Ăn không ngon, sắc nước gừng mà chiêu thuốc (4g gừng), nếu có giun, chạy bằng hạt cau (hạt cau 4g sắc với 50ml nước dùng chiêu thuốc).
Viên ô dược: Ô dược tán nhỏ, thêm nước hồ làm thành viên bằng hạt ngô. Ngày uống 10-20 viên chữa lỵ, sốt, đi ỉa.
Chú thích:
Theo các tài liệu cũ, trong nước ta có vệ châu ô dược Cocculus laurifoiius DC. thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae). Đây là một cây dây leo, gầy nhẵn, màu xanh lục nhạt. Lá có cuống ngắn gần giống như lá quế. Phiến phía cuống nhọn, dai, nhẫn dài 9cm, rộng 3-5cm, có 3 gân, nổi rõ ô cả hai mật. Quả hình thấu kính, đường kính 5mm. Hạt cũng gần giống như quả, hình thấu kính, nhưng ờ hai mặt có đìa nổi lên trông giống móng ngựa. Theo tài liệu, cây này mọc ở khắp Việt Nam. Theo sự nghiên cứu của Nhật Bản, thì trong vỏ và lá có ancaloit gọi là cocculin có tác dụng giống như chất curarơ.
Cập nhật: 08/06/2022
★★★★★★0.0 - 0 đánh giá
Chia sẻ
Chia sẻ