Dược liệuỐc nhồi
Ốc Nhồi
Pila polita Deshayes
Tên gọi khác: ốc đồng
chữa đại tiểu tiện không thông, được chế biến thành những món ăn dân dã.
Cách sử dụng trong đời sống
- Trong dân gian, ốc nhồi được chế biến thành những món ăn dân dã như bún ốc, canh ốc, ốc xào… và món đặc sản ốc nhồi thịt, ốc hấp lá gừng, rất được ưa chuộng. Nhiều người cho rằng đó là những món ăn – vị thuốc có lợi cho cơ thể con người. Ốc nhồi nấu với lá xương sông làm tăng tính ấm, bớt mùi tanh, rất thích hợp với những người hay bị dị ứng với thức ăn tanh và lạnh. Trong y học, thịt ốc nhồi được dùng chữa đại tiểu tiện không thông. Hàng ngày, ăn ốc nhồi luộc và uống nước luộc ốc. Dùng nhiều ngày. Nhiều lương y cho rằng thịt ốc nhồi nấu với chuối xanh rất tốt cho bệnh nhân đái tháo đường. Dùng ngoài, lấy thịt ốc nhồi (loại to) nướng chín, giã đắp nóng lên rốn sản phụ để giúp dễ đẻ. Thịt ốc nhồi (bỏ ruột) giã với một củ hành già và ít muối, đắp vào rốn, băng lại, chữa bí đái. Để chữa gai dằm, mảnh đạn cắm vào da thịt, nhân dân thường dùng thịt ốc nhồi và lông nhím (lượng bằng nhau) đốt thành tro, trộn với mầm lúa nếp và dây tơ hồng giã nhỏ, đắp. Theo tài liệu nước ngoài, ở Trung Quốc, người ta lấy thịt ốc nhồi (250 g) nấu nhừ với kê cốt thảo (30 g), chắt nước uống hàng ngày. Dùng 3-5 ngày. Chữa xơ gan, viêm gan mạn tính. Vỏ ốc nhồi (2 cái) rửa sạch, sấy khô, sao vàng, tán bột mịn; cỏ nhọ nồi (50 g) phơi khô, sao vàng, tán bột mịn. Trộn đều hai bột. Xát vào răng lợi nhiều lần trong ngày để chữa miệng lỏ, lưỡi giộp, lợi và niêm mạc má loét. Dùng 2-3 ngày là khỏi. Để chữa cơn đau tim đột ngột, lấy vỏ ốc nhồi đốt với gỗ thông thành than, tán bột, rồi uống với nước sắc gỗ trầm hư…
