Thói quen dùng thảo dược truyền miệng và nỗi lo độc tính
Nhiều người Việt có thói quen hễ nghe cây thuốc nào mát gan, trị sốt là tự ý đào rễ, sắc uống thay nước hàng ngày. Nhó đông (thuộc chi Morinda) cũng là một trong những vị thuốc dân gian được truyền tai với nhiều công dụng bảo vệ sức khỏe. Tuy nhiên, việc tự ý dùng dược liệu mà không hiểu rõ đặc tính sinh học tiềm ẩn nhiều rủi ro khôn lường.
Liệu rễ Nhó đông và các thảo dược cùng chi có hoàn toàn lành tính như lời đồn? Câu trả lời ngắn gọn là không; các nghiên cứu tiền lâm sàng trên chi Morinda chỉ ra những nguy cơ độc tính rõ rệt trên hệ sinh sản, gan và thận nếu dùng sai cách hoặc dùng trên nhóm người có bệnh lý nền.
Thực tế, rễ và vỏ của các loài thực vật này chứa các hoạt chất thứ cấp đậm đặc, đòi hỏi gan và thận phải làm việc liên tục để chuyển hóa và đào thải [1]. Khi cơ thể đang mang bệnh hoặc trong trạng thái nhạy cảm, việc tự ý nạp thêm các chiết xuất thảo dược có thể gây ngộ độc tế bào hoặc làm tổn thương tạng nghiêm trọng [2].
Dưới đây là 4 nhóm đối tượng đặc biệt không nên tự ý dùng rễ Nhó đông và các chế phẩm thảo dược cùng chi khi chưa có chỉ định y khoa.
Phụ nữ có thai và đang cho con bú: Nguy cơ sảy thai và rối loạn nội tiết
Phụ nữ mang thai là đối tượng tuyệt đối không được tự ý sử dụng các chiết xuất từ thảo dược chi Morinda. Hiện chưa có thử nghiệm lâm sàng trực tiếp trên phụ nữ có thai đối với loài Nhó đông bản địa, nhưng dữ liệu độc tính sinh sản từ loài cùng chi Morinda citrifolia đã gióng lên hồi chuông cảnh báo lớn [3].
Một nghiên cứu công bố năm 2009 trên chuột cống trắng mang thai (Wistar) đã đánh giá độc tính sinh sản của chiết xuất nước loài này qua đường uống [3]. Các nhà khoa học thử nghiệm ba mức liều gồm 7,5 mg/kg, 75 mg/kg và 750 mg/kg trọng lượng cơ thể [3]. Kết quả thử nghiệm tử cung cho thấy chiết xuất biểu hiện hoạt tính kháng estrogen rõ rệt ở liều 7,5 và 750 mg/kg [3].
Đáng lo ngại hơn, trong thử nghiệm thai kỳ và tiết sữa, mức liều thấp 7,5 mg/kg đã làm giảm 50% chỉ số sinh đẻ và làm tăng tới 74% tỷ lệ sảy thai sau khi phôi làm tổ [3]. Nghiên cứu trong ống nghiệm trên cơ tử cung chuột cô lập cũng cho thấy chiết xuất làm giảm 50% khả năng co bóp tự nhiên do acid arachidonic kích thích [3].
Những dữ liệu này chứng minh thảo dược chi này có khả năng gây độc tính sinh sản theo cơ chế đáp ứng liều không tuyến tính [3]. Do đó, phụ nữ mang thai tự ý uống nước sắc rễ thảo dược có thể đối mặt với nguy cơ sảy thai, thai lưu hoặc rối loạn nội tiết nghiêm trọng.
Người có bệnh lý về gan: Nguy cơ hoại tử tế bào gan do quá liều
Nhiều người tìm đến rễ cây thuốc Nam với mong muốn hạ men gan hay giải độc gan. Tuy nhiên, việc đưa một lượng lớn hoạt chất chưa qua tinh chế vào cơ thể có thể gây phản tác dụng, dẫn đến tổn thương gan cấp hoặc mạn tính [2].
Một nghiên cứu độc tính mạn tính kéo dài 6 tháng công bố năm 2017 trên chuột nhắt cái đã chỉ ra tác hại của việc dùng chiết xuất quả Morinda citrifolia liều cao [2]. Ở mức liều 2 mg/ml nước uống, các nhà khoa học ghi nhận hiện tượng hoại tử tế bào gan rõ rệt trên mô bệnh học, kích thước gan bị teo nhỏ và men gan AST tăng cao cùng sự sụt giảm albumin huyết thanh [2]. Thậm chí, mức liều này dẫn đến tỷ lệ tử vong 40% ở chuột trong vòng 3 tháng thử nghiệm, kèm theo các triệu chứng ủ rũ, giảm vận động [2]. Nghiên cứu cũng nhắc lại 6 báo cáo ca tổn thương gan ở người liên quan đến việc tiêu thụ nước ép thảo dược này [2].
Tương tự, một nghiên cứu năm 2022 trên chuột cống cái bị nhiễm độc chì nitrat đã kiểm tra tác động của dịch chiết vỏ thân Morinda lucida [4]. Nghiên cứu chia các nhóm chuột uống các liều 100, 250 và 500 mg/kg trong 14 ngày [4]. Kết quả cho thấy trong khi liều 250 mg/kg giúp cải thiện cấu trúc tế bào gan bị tổn thương, thì liều cao 500 mg/kg lại thể hiện độc tính trực tiếp lên mô gan của động vật [4].
Các nhà nghiên cứu nghi ngờ các hợp chất anthraquinone có trong vỏ và hạt của chi này có thể kích thích quá mức enzym quinone reductase (mạnh gấp 40 lần l-sulforaphane), tiềm ẩn nguy cơ gây độc tế bào gan nếu lạm dụng [2]. Người đã có men gan cao, viêm gan hoặc xơ gan nếu tự ý uống rễ Nhó đông liều cao sẽ khiến gan quá tải, đẩy nhanh tiến trình suy gan.
Người suy thận nặng: Áp lực bài tiết và nguy cơ tổn thương chức năng thận
Thận là cơ quan bài tiết chính các chất chuyển hóa sau khi gan xử lý các hợp chất thảo dược. Ở người bị suy giảm chức năng thận hoặc suy thận nặng, khả năng lọc và đào thải các chất độc qua nước tiểu bị suy giảm nghiêm trọng.
Một nghiên cứu công bố năm 2010 đã đánh giá độc tính gan và thận của chiết xuất lá Morinda lucida trên chuột cống trắng Wistar qua 42 ngày dùng liên tục [5]. Mặc dù thử nghiệm độc tính cấp đường uống cho thấy thảo dược không gây chết ở liều 6400 mg/kg và không ghi nhận độc tính trên thận ở chuột khỏe mạnh trong điều kiện kiểm soát, các tác giả lưu ý rằng đây là dữ liệu trên động vật có chức năng tạng bình thường [5].
Thực tế, rễ cây rừng chưa tinh chế chứa nhiều khoáng chất, tạp chất hữu cơ và các hợp chất chuyển hóa thứ cấp phức tạp. Khi thận bị suy, các chất này không thể đào thải kịp, tích tụ trong máu gây độc toàn thân. Người suy thận tuyệt đối không được tự ý sắc thuốc lá, rễ cây uống thay nước lọc.
Người đang dùng thuốc chuyển hóa qua gan: Nguy cơ tương tác thuốc bất lợi
Nhóm đối tượng thứ tư cần hết sức thận trọng là những người đang phải điều trị các bệnh mãn tính bằng thuốc Tây chuyển hóa qua hệ enzym gan (như thuốc tim mạch, thuốc tiểu đường, thuốc hạ mỡ máu hay thuốc chống đông).
Một nghiên cứu năm 2017 đã phân lập 7 hợp chất thứ cấp từ chiết xuất vỏ thân Morinda lucida, bao gồm asperuloside, asperulosidic acid, stigmasterol, beta-sitosterol, cycloartenol, campesterol và 5,15-O-dimethylmorindol [1]. Nghiên cứu này ghi nhận dịch chiết thô có hoạt tính sinh học ức chế ký sinh trùng sốt rét với giá trị IC50 đạt 25 mug/mL [1].
Dù các hợp chất này có tiềm năng dược lý, sự hiện diện của nhiều chất chuyển hóa thứ cấp hoạt tính cao đồng nghĩa với việc chúng có thể ức chế hoặc cảm ứng các enzym chuyển hóa thuốc tại gan [5, 6]. Việc uống đồng thời rễ thảo dược với thuốc điều trị có thể làm tăng nồng độ thuốc trong máu gây ngộ độc, hoặc làm giảm tác dụng điều trị của thuốc, khiến bệnh nền mất kiểm soát.
Bằng chứng khoa học hiện tại nói lên điều gì?
Các dữ liệu độc học về chi Morinda hiện nay mang lại cái nhìn hai chiều rất rõ ràng. Một mặt, các thử nghiệm cho thấy tiềm năng dược lý và tính an toàn của một số dạng bào chế cụ thể [6]. Ví dụ, nghiên cứu năm 2022 trên chuột cống và chuột nhắt dùng Morinda officinalis lên men (FMO) cho thấy dược liệu không gây độc di truyền, không gây chết ở liều cấp 20 g/kg và an toàn trong thử nghiệm 90 ngày ở liều 8 g/kg/ngày [6].
Mặt khác, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ranh giới giữa tác dụng trị liệu và độc tính của chi thảo dược này rất mong manh [4, 5]. Nghiên cứu năm 2022 chỉ ra liều 250 mg/kg có lợi nhưng tăng lên liều 500 mg/kg đã xuất hiện độc tính trên mô gan [4]. Hơn nữa, đa phần các dữ liệu an toàn hiện nay mới chỉ dừng lại ở thử nghiệm trên động vật gặm nhấm (chuột cống, chuột nhắt) hoặc tế bào ống nghiệm, chưa có đủ thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn trên người [1, 2, 3, 5, 6]. Do đó, người bệnh không thể tự suy diễn rằng thảo dược tự nhiên thì an toàn tuyệt đối.
Áp dụng an toàn: Không tự ý dùng rễ tươi sắc uống
Để bảo vệ sức khỏe bản thân và gia đình, người dân cần từ bỏ thói quen tự ý thu hái hoặc mua rễ Nhó đông không rõ nguồn gốc về đun sắc uống vô tội vạ. Bất kỳ vị thuốc nào chứa hoạt tính sinh học đều phải được xem như một loại dược phẩm có chỉ định và chống chỉ định cụ thể.
Khi có nhu cầu sử dụng Nhó đông để hỗ trợ điều trị, người bệnh bắt buộc phải tham khảo ý kiến của bác sĩ y học cổ truyền hoặc chuyên gia y tế. Liều lượng, thời gian dùng và dạng bào chế (như lên men hay chiết xuất chuẩn hóa) cần được kiểm soát chặt chẽ để tránh nguy cơ tích tụ độc tính cho gan và thận [2, 4].
Thảo dược tự nhiên là kho tàng quý giá nhưng chỉ phát huy giá trị khi được dùng đúng người, đúng bệnh và đúng liều lượng khoa học. Việc cẩn trọng trước các bài thuốc truyền miệng chính là cách tốt nhất để bảo vệ tính mạng và sức khỏe lâu dài.


