Nhiều người mắc các bệnh mạn tính như tăng huyết áp, tiểu đường hay mỡ máu thường có tâm lý chuộng thảo dược thiên nhiên để bồi bổ cơ thể. Trong đó, hà thủ ô là vị thuốc quen thuộc được truyền tai nhau về tác dụng làm đen râu tóc, bổ gan thận và tăng cường sinh lực. Không ít người đang dùng thuốc tây hằng ngày vẫn mua thêm viên hoàn hoặc nước sắc hà thủ ô uống kèm vì nghĩ thảo mộc tự nhiên là hoàn toàn vô hại.

Tuy nhiên, câu trả lời từ các bằng chứng khoa học hiện nay là việc tự ý kết hợp này tiềm ẩn rất nhiều rủi ro nguy hiểm. Các nghiên cứu dược lý hiện đại ghi nhận hà thủ ô có thể can thiệp trực tiếp vào hệ thống enzyme giải độc của gan, làm thay đổi tốc độ chuyển hóa của các loại thuốc tây dùng chung và dẫn đến ngộ độc gan nặng nề.

"Trạm kiểm soát" enzyme cytochrome P450 ở gan hoạt động thế nào?

Để hiểu vì sao thảo dược có thể gây hại khi uống cùng thuốc tây, cần biết về hệ thống enzyme cytochrome P450 (gọi tắt là CYP450) tại gan. Đây là nhóm enzyme chính chịu trách nhiệm chuyển hóa, giáng hóa và đào thải hầu hết các loại thuốc tân dược cũng như hợp chất ngoại lai ra khỏi cơ thể [1].

Khi một loại thuốc đi vào cơ thể, các phân họ enzyme như CYP3A4, CYP2C9, CYP2C19, CYP1A2 hay CYP2D6 sẽ làm nhiệm vụ phân cắt thuốc thành các chất không độc để bài tiết ra ngoài. Nếu một chất ức chế các enzyme này, thuốc tây không được đào thải kịp thời, dẫn đến tích tụ nồng độ rất cao trong huyết tương và sinh ra tác dụng phụ nghiêm trọng. Ngược lại, nếu enzyme bị kích thích tăng hoạt tính quá mức, thuốc tây có thể bị đào thải quá nhanh làm mất tác dụng trị bệnh, hoặc tạo ra nhiều chất chuyển hóa trung gian gây hoại tử tế bào gan [2], [1].

Hoạt chất trong hà thủ ô làm xáo trộn chuyển hóa thuốc ra sao?

Một nghiên cứu công bố năm 2023 đã kiểm tra chi tiết khả năng tương tác thuốc của hà thủ ô thông qua các thử nghiệm ức chế trên 7 enzyme CYP450 tái tổ hợp của người [3]. Kết quả cho thấy cả hà thủ ô sống lẫn các chế phẩm đã qua chế biến đều gây ức chế hàng loạt phân họ enzyme quan trọng gồm CYP1A2, CYP2B6, CYP2C8, CYP2C19, CYP2D6 và CYP3A4 [3].

Đáng chú ý, mức độ ức chế enzyme của hà thủ ô sống là mạnh nhất, tiếp đến là dạng chế biến theo Dược điển Trung Quốc, và thấp nhất là dạng chế biến cửu chưng cửu sái (chín lần đồ, chín lần sấy) đối với hầu hết các enzyme kể trên [3]. Tuy nhiên, đối với riêng enzyme CYP2C9, cả hà thủ ô sống và dạng cửu chưng cửu sái đều thể hiện mức độ ức chế cao hơn dạng chế biến chuẩn dược điển [3]. Thử nghiệm dược động học trên chuột cũng chứng minh hà thủ ô sống làm tăng rõ rệt nồng độ phơi nhiễm của sulindac (một loại thuốc kháng viêm không steroid phổ biến) trong máu [3].

Đi sâu vào cấp độ phân tử, các nhà khoa học phát hiện nhiều hợp chất đặc trưng của hà thủ ô chính là thủ phạm gây ức chế enzyme [3]. Cụ thể, trans-THSG ức chế chọn lọc CYP3A4, emodin ức chế CYP1A2 [3]. Hợp chất epicatechin gallate ức chế mạnh CYP3A4 và CYP1A2, kế tiếp là CYP2C8 và CYP2C9 [3]. Ngoài ra, genistein ức chế chủ yếu CYP3A4, CYP2C9, CYP2C8, còn daidzein cũng ức chế cả CYP3A4 và CYP2C9 [3].

Nguy cơ tổn thương gan khi phối hợp nhiều thành phần

Một nghiên cứu khác thực hiện năm 2015 trên chuột thí nghiệm được chia thành 5 nhóm: nhóm đối chứng dùng nước muối sinh lý, nhóm dịch chiết cồn liều 15 g/kg và 30 g/kg, nhóm dịch chiết nước liều 15 g/kg và 30 g/kg, uống liên tục trong 28 ngày [4]. Mỗi nhóm gồm 5 chuột đực và 5 chuột cái, được đánh giá hoạt tính enzyme gan thông qua phương pháp cocktail gồm 6 thuốc chỉ thị: bupropion, omeprazole, tolbutamide, phenacetin, midazolam và metoprolol [4].

Kết quả cho thấy dịch chiết cồn hà thủ ô gây ức chế hoạt tính của CYP2C19 và CYP2C9, đồng thời cảm ứng làm tăng hoạt tính CYP1A2 [4]. Trong khi đó, dịch chiết nước của hà thủ ô lại gây ức chế một loạt enzyme bao gồm CYP2B6, CYP2C19, CYP2C9, CYP1A2 và CYP2D6 [4]. Điều này đồng nghĩa với việc dù người dùng sắc hà thủ ô lấy nước uống hay ngâm rượu uống, hoạt tính của các trạm giải độc gan đều bị xáo trộn nghiêm trọng.

Nghiên cứu công bố năm 2022 đã làm rõ cơ chế tương tác nguy hiểm giữa hai thành phần chính của hà thủ ô là 2,3,5,4'-tetrahydroxystilbene-2-O-beta-D-glucoside (TSG) và emodin (EMD) [2]. Khi phối hợp TSG cùng EMD, nồng độ phơi nhiễm nội tại của EMD tăng lên, gia tăng sự hình thành phức hợp gắn kết protein gan và thúc đẩy tổn thương gan tiến triển ở chuột [2].

Nuôi cấy vi thể gan người và chuột cho thấy TSG làm giảm sự hình thành các chất chuyển hóa hydroxyl hóa của EMD [2]. Khi ủ với enzyme tái tổ hợp của người, TSG gây ức chế không hồi phục đối với CYP2C19 và CYP3A4 theo thời gian, nồng độ và phụ thuộc NADPH [2]. Quá trình này tạo ra chất chuyển hóa epoxide từ TSG, chính là tác nhân gây bất hoạt vĩnh viễn các enzyme gan quan trọng [2].

Bên cạnh nguy cơ tự tương tác nội tại, hà thủ ô còn làm tăng vọt độc tính của các thuốc giảm đau thông thường. Nghiên cứu năm 2017 ghi nhận hoạt chất TSG trong hà thủ ô làm trầm trọng thêm tổn thương gan do acetaminophen (paracetamol) gây ra trên chuột [1]. Với các mức liều TSG 200, 400 và 800 mg/kg kết hợp cùng liều paracetamol dưới ngưỡng độc 200 mg/kg, men gan ALT và AST trong huyết thanh tăng vọt và mô học gan bị phá hủy, dù TSG dùng đơn độc không gây độc gan [1]. TSG đã kích thích tăng biểu hiện và hoạt tính xúc tác của CYP2E1, CYP3A4 và CYP1A2 tại gan, làm cạn kiệt glutathione (GSH) bảo vệ gan và gia tăng tích tụ phức hợp độc chất gây hoại tử tế bào [1].

Hiểu lầm thường gặp về tính an toàn của hà thủ ô

Hiểu lầm phổ biến nhất là quan niệm "thuốc nam, thảo mộc lành tính, uống chung với thuốc tây chỉ bổ thêm chứ không hại". Thực tế, các nghiên cứu đã chứng minh nhiều hoạt chất tự nhiên có hoạt tính sinh học rất mạnh [3], [2]. Khi dùng chung, hà thủ ô ức chế các enzyme CYP3A4 hay CYP2C9 – vốn là con đường chuyển hóa của hơn một nửa các thuốc tim mạch, chống đông, huyết áp, mỡ máu và kháng viêm hiện nay [3], [4].

Một hiểu lầm khác là cho rằng cứ chế biến cửu chưng cửu sái thì hà thủ ô sẽ an toàn tuyệt đối. Mặc dù quá trình chế biến sâu giúp giảm bớt mức độ ức chế trên các enzyme CYP1A2, CYP3A4 hay CYP2C19 so với củ sống, nhưng dạng chế biến này vẫn ức chế rất mạnh enzyme CYP2C9 [3]. Do đó, nguy cơ tương tác thuốc bất lợi vẫn luôn hiện hữu kể cả khi đã dùng hà thủ ô chế biến đúng cách [3].

Những đối tượng tuyệt đối nên thận trọng

Những người đang dùng thuốc điều trị bệnh mạn tính hằng ngày là nhóm đối tượng có nguy cơ cao nhất. Cụ thể:

  • Người đang điều trị tim mạch, huyết áp, đái tháo đường: Các thuốc hạ đường huyết hay tim mạch thường được chuyển hóa qua hệ enzyme CYP2C9, CYP2C19 hoặc CYP3A4 [3], [4]. Dùng kèm hà thủ ô có thể làm nồng độ thuốc trong máu tăng vọt, gây hạ đường huyết đột ngột hoặc tụt huyết áp.
  • Người đang dùng thuốc giảm đau, hạ sốt (như acetaminophen hay thuốc chống viêm NSAID): Nguy cơ hoại tử tế bào gan gia tăng rõ rệt khi các độc chất tích tụ và glutathione bảo vệ gan bị cạn kiệt [3], [1].
  • Người có tiền sử viêm gan, men gan cao hoặc suy giảm chức năng gan: Gan đang tổn thương lại bị ức chế enzyme chuyển hóa sẽ dễ tiến triển thành suy gan cấp tính.

Áp dụng thực tế để bảo vệ sức khỏe bản thân

Để đảm bảo an toàn, người bệnh cần tuân thủ các nguyên tắc dùng thuốc và thảo dược sau:

  • Thông báo cho bác sĩ điều trị: Luôn mang theo danh sách tất cả các loại thảo dược, thực phẩm chức năng, viên hoàn đông y chứa hà thủ ô đang sử dụng để bác sĩ đánh giá nguy cơ tương tác thuốc.
  • Không tự ý kết hợp cùng lúc: Tuyệt đối không dùng hà thủ ô cùng thời điểm hoặc uống sát giờ với các cữ thuốc tây điều trị bệnh mạn tính.
  • Chọn nguồn gốc chế phẩm rõ ràng: Nếu có chỉ định dùng hà thủ ô, tuyệt đối không dùng củ sống chưa qua chế biến nhằm giảm thiểu tối đa độc tính và ức chế enzyme [3].
  • Theo dõi sát các dấu hiệu bất thường: Khi dùng thuốc mà xuất hiện các triệu chứng như mệt mỏi bất thường, chán ăn, vàng da, vàng mắt, nước tiểu sẫm màu, cần ngừng ngay thảo dược và đến bệnh viện kiểm tra men gan.

Tóm lại, hà thủ ô là một dược liệu có hoạt tính dược lý phức tạp chứ không đơn thuần là vị thuốc bổ vô hại. Người bệnh mạn tính đang dùng thuốc tây tuyệt đối không nên tự ý bổ sung hà thủ ô để tránh nguy cơ ngộ độc và tương tác thuốc nguy hiểm.