Nhiều người thường truyền tai nhau thói quen uống nước sắc hoặc viên hoàn hà thủ ô mỗi ngày để bồi bổ sức khỏe. Tuy nhiên, không ít trường hợp phải nhập viện vì vàng da, mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa sau thời gian tự ý dùng loại dược liệu này.
Người có tiền sử bệnh gan, suy giảm chức năng gan hoặc hệ tiêu hóa kém, hay đau bụng, tiêu chảy là nhóm đối tượng cần đặc biệt tránh dùng hà thủ ô. Các dữ liệu khoa học ghi nhận dược liệu này có thể gây độc cho gan, làm tổn thương tế bào gan, kích thích nhu động ruột gây tiêu chảy và buồn nôn [1], [2], [3].
Nghịch lý giữa tác dụng bồi bổ và nguy cơ gây độc
Trong y học cổ truyền, hà thủ ô vốn được sử dụng lâu đời với mục đích bồi bổ gan, thận và được xem như một vị thuốc bổ không có độc tính trong hàng nghìn năm [4], [3]. Các phân tích hiện đại cũng cho thấy rễ củ hà thủ ô chứa chrysophanol, emodin, lecithin giúp ngăn lắng đọng cholesterol ở gan, giảm men gan ALT, AST và hỗ trợ cải thiện bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu [2].
Tuy nhiên, số lượng báo cáo về các tác dụng bất lợi của hà thủ ô đang ngày càng gia tăng trên toàn thế giới, bao gồm độc tính trên gan, độc tính trên thận và độc tính đối với phôi thai [1]. Trong đó, độc tính gây tổn thương gan là vấn đề đáng ngại nhất [1]. Việc một dược liệu vừa có khả năng bảo vệ gan vừa gây độc cho gan tạo ra nghịch lý lớn trong giới nghiên cứu [1].
Các nhà khoa học lý giải nghịch lý này xuất phát từ liều lượng và thời gian sử dụng [1]. Dùng liều thấp trong thời gian ngắn có thể mang lại tác dụng bảo vệ gan, nhưng dùng liều cao hoặc kéo dài dễ dẫn đến ngộ độc gan [1]. Ngoài ra, tỷ lệ khác nhau giữa các hoạt chất như TSG, physcion và emodin trong từng mẫu dược liệu cũng quyết định việc thuốc sẽ phát huy tính chống oxy hóa bảo vệ gan hay gây độc tế bào [1].
Cơ chế hà thủ ô tấn công tế bào gan và hệ tiêu hóa
Một số nghiên cứu chỉ ra các anthraquinone tự do như emodin và physcion là những chất gây độc cho gan chính trong hà thủ ô [1]. Ở cấp độ tế bào, emodin làm ngừng chu kỳ phát triển của tế bào gan người bình thường ở pha S và thúc đẩy quá trình chết tế bào theo chương trình [5]. Điều này dẫn đến sự ức chế tăng trưởng và làm tổn thương trực tiếp các tế bào gan lành [5].
Bên cạnh đó, hà thủ ô còn gây rối loạn quá trình chuyển hóa năng lượng, chuyển hóa axit amin và chuyển hóa lipid trong cơ thể [6]. Dược liệu này cũng làm thay đổi hoạt tính của nhóm enzyme chuyển hóa thuốc tại gan là cytochrome P450 (CYP450), bao gồm việc ức chế CYP2B6, CYP2C19, CYP2C9, CYP1A2, CYP2D6 hoặc cảm ứng CYP1A2 tùy dạng chiết xuất [4]. Khi hệ enzyme này bị xáo trộn, khả năng xử lý các thuốc dùng kèm của gan sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng [4].
Đối với hệ tiêu hóa, các thành phần trong hà thủ ô có tác dụng thúc đẩy nhu động dạ dày - ruột [2]. Ở người có đường tiêu hóa nhạy cảm, cơ chế này dễ dẫn đến các phản ứng bất lợi như buồn nôn, nôn mửa, đau bụng và tiêu chảy [3].
Bằng chứng từ các nghiên cứu trên tế bào và động vật
Một nghiên cứu công bố năm 2010 đã phân tích thành phần gây hại của hà thủ ô sống và hà thủ ô chế trên dòng tế bào gan người bình thường L02 [5]. Nhóm nghiên cứu dùng cồn 70% chiết xuất dược liệu, sau đó rửa giải qua nhựa hấp phụ bằng nước, cồn 50% và cồn 95% [5]. Kết quả cho thấy phần chiết xuất rửa giải bằng cồn 95% của cả hà thủ ô sống và chế đều ức chế mạnh sự phát triển của tế bào gan L02, trong khi các phân đoạn khác không gây ức chế đáng kể [5]. Phân tích sắc ký lỏng hiệu năng cao xác định thành phần chính trong phân đoạn cồn 95% này là emodin, chiếm tỷ lệ 18,53±2,96% ở hà thủ ô sống và 10,28±1,34% ở hà thủ ô chế [5].
Năm 2015, một nghiên cứu trên chuột thực nghiệm đã đánh giá ảnh hưởng của hà thủ ô lên hệ enzyme gan và mô học gan [4]. Chuột được chia thành 5 nhóm (mỗi nhóm 5 con đực và 5 con cái), uống nước muối sinh lý hoặc dịch chiết cồn, dịch chiết nước của hà thủ ô ở mức liều 15 g/kg và 30 g/kg mỗi ngày trong 28 ngày liên tiếp [4]. Sau 28 ngày, nhóm uống dịch chiết cồn bị ức chế enzyme CYP2C19, CYP2C9 và tăng hoạt tính CYP1A2, đồng thời mô gan thoái hóa mức độ nhẹ [4]. Nhóm uống dịch chiết nước bị ức chế tới 5 loại enzyme là CYP2B6, CYP2C19, CYP2C9, CYP1A2 và CYP2D6 [4].
Cũng trong năm 2015, một nghiên cứu chuyển hóa trên chuột dùng sắc ký khí khối phổ để phân tích huyết thanh và mô gan sau khi dùng hà thủ ô [6]. Kết quả ghi nhận nhóm dùng dịch chiết nước tăng nồng độ L-threonine và serine trong máu, còn nhóm dùng dịch chiết cồn tăng các axit béo, đường D-glucose và giảm mạnh axit lactic [6]. Tại mô gan, cả hai nhóm đều tăng myo-inositol, axit oleic, cholesterol và giảm mạnh axit hexadecanoic, axit octadecanoic, ribitol, axit butanedioic [6]. Nghiên cứu này kết luận nhóm dùng dịch chiết cồn có mức độ tổn thương gan nặng hơn nhóm dùng dịch chiết nước [6]. Tuy nhiên, một tổng quan năm 2014 lại ghi nhận một số thí nghiệm khác cho thấy dịch chiết nước gây độc gan mạnh hơn dịch chiết cồn và acetone, dù hàm lượng emodin và physcion trong dịch chiết cồn cao hơn [1]. Sự mâu thuẫn giữa các kết quả thực nghiệm cho thấy cơ chế gây độc của hà thủ ô rất phức tạp và cần nghiên cứu thêm [1].
Dữ liệu lâm sàng trên bệnh nhân tổn thương gan
Trên người, một nghiên cứu bệnh - chứng công bố năm 2019 đã khảo sát đặc điểm miễn dịch của bệnh nhân bị tổn thương gan do các chế phẩm hà thủ ô [7]. Nghiên cứu thu thập 46 cặp bệnh nhân có dùng hà thủ ô (một bên bị tổn thương gan và một bên không bị tổn thương gan), được ghép cặp tương đồng theo tỷ lệ 1:1 về loại chế phẩm, giới tính, độ tuổi, bệnh nền và thuốc dùng kèm [7]. Phân tích giải trình tự gen máu tĩnh mạch cho thấy sự khác biệt rõ rệt về số lượng loài bản sao, độ dài chuỗi axit amin vùng CDR3, độ phong phú của gen V, gen J và tính đa dạng miễn dịch giữa hai nhóm [7]. Điều này chứng tỏ yếu tố cơ địa miễn dịch và gen nhạy cảm đóng vai trò quan trọng khiến một số người dễ bị ngộ độc gan khi dùng hà thủ ô [7], [3].
Năm 2020, một phân tích dữ liệu từ hệ thống báo cáo phản ứng có hại tự nguyện quốc gia đã dùng mạng thần kinh truyền tin cậy Bayes để tìm tín hiệu rủi ro của viên nang Xinyuan - một chế phẩm chứa hà thủ ô [3]. Phân tích đã phát hiện hàng loạt tín hiệu cảnh báo phản ứng bất lợi trong thực tế lâm sàng, bao gồm tổn thương tế bào gan, buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy, đau bụng, phát ban, chóng mặt và đau đầu [3].
Đáng chú ý, một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu công bố năm 2025 đã so sánh dữ liệu bệnh án từ tháng 1/1995 đến tháng 8/2019 tại 4 bệnh viện lớn [8]. Nghiên cứu phân tích 73 ca tổn thương gan do hà thủ ô, 168 ca tổn thương gan do các thuốc y học cổ truyền khác và 225 ca do thuốc tân dược [8]. Trong 73 ca ngộ độc hà thủ ô, có 11 người (15,1%) dùng hà thủ ô đơn vị dạng bột hoặc nấu nước uống, 37 người (50,7%) dùng thuốc thành phẩm chứa hà thủ ô và 25 người (34,2%) dùng bài thuốc thang có phối hợp hà thủ ô [8].
Kết quả so sánh cho thấy độ tuổi trung bình của nhóm tổn thương gan do hà thủ ô là 48 tuổi, trẻ hơn đáng kể so với nhóm do thuốc đông y khác (55 tuổi) và nhóm do thuốc tây y (52 tuổi) [8]. Các chỉ số men gan phản ánh mức độ hủy hoại tế bào gan và ứ mật gồm ALT, AST và phosphatase kiềm ở nhóm dùng hà thủ ô đều cao hơn hai nhóm còn lại [8]. Tỷ lệ bệnh nhân dương tính với kháng thể kháng nhân và tỷ lệ tổn thương gan nặng ở cấp độ 3 trong nhóm dùng hà thủ ô cũng cao hơn hẳn so với nhóm tổn thương gan do thuốc tân dược [8].
Những hiểu lầm phổ biến khiến người dùng nhập viện
Hiểu lầm lớn nhất là niềm tin hà thủ ô hoàn toàn lành tính vì đã được dùng làm thuốc bổ suốt hàng nghìn năm [3]. Thực tế, dù dùng dạng củ đơn lẻ đem nghiền bột, nấu nước uống hay dùng dạng viên nang thành phẩm, bài thuốc phối hợp thì nguy cơ tổn thương gan nặng vẫn xảy ra [8].
Hiểu lầm thứ hai là cho rằng chỉ hà thủ ô sống mới độc, còn hà thủ ô đã qua chế biến (hà thủ ô chế) thì tuyệt đối an toàn. Nghiên cứu cho thấy dù độc tính của hà thủ ô sống mạnh hơn hà thủ ô chế, nhưng sau khi chế biến, hàm lượng các chất gây độc như emodin và physcion lại có xu hướng tăng lên ở một số khảo sát [1]. Trong thí nghiệm trên tế bào gan người, chiết xuất cồn 95% của cả hà thủ ô sống và hà thủ ô chế đều chứa emodin và đều làm ngừng chu kỳ tế bào, gây chết tế bào gan [5].
Ai tuyệt đối không nên dùng hoặc phải đặc biệt thận trọng?
Nhóm đầu tiên cần tránh dùng là người có tiền sử bệnh gan, men gan cao hoặc suy giảm chức năng gan. Khi gan vốn đã tổn thương, việc tiếp nạp thêm các hoạt chất gây rối loạn chuyển hóa lipid, axit amin và gây chết tế bào gan như emodin sẽ làm tăng nguy cơ suy gan cấp độ nặng [6], [5], [8].
Nhóm thứ hai là người có hệ tiêu hóa kém, hay bị đau bụng, đầy bụng, buồn nôn hoặc tiêu chảy. Đặc tính thúc đẩy nhu động dạ dày - ruột của hà thủ ô cùng các phản ứng phụ đã được ghi nhận sẽ làm tình trạng rối loạn tiêu hóa trầm trọng hơn [2], [3].
Nhóm thứ ba là phụ nữ đang mang thai hoặc chuẩn bị mang thai do các báo cáo về độc tính đối với phôi thai và thận [1]. Người đang điều trị bệnh mạn tính bằng các loại thuốc chuyển hóa qua hệ enzyme gan CYP450 (như omeprazole, metoprolol, tolbutamide, bupropion, midazolam, phenacetin) hoặc người có cơ địa dị ứng, bệnh tự miễn cũng cần tránh tự ý sử dụng để phòng ngừa tương tác thuốc và phản ứng miễn dịch bất lợi [4], [7], [8].
Nguyên tắc an toàn nếu muốn sử dụng
Người khỏe mạnh không nên tự ý mua củ hà thủ ô sống hoặc bột hà thủ ô trôi nổi về nấu nước uống, ngâm rượu dùng hàng ngày trong thời gian dài [1], [6], [8]. Việc ngâm rượu hoặc chiết xuất bằng cồn nồng độ cao có thể hòa tan nhiều emodin gây hại cho tế bào gan và làm trầm trọng thêm tổn thương mô gan [6], [5].
Khi có nhu cầu bồi bổ hoặc hỗ trợ điều trị bệnh như mỡ máu, gan nhiễm mỡ, người bệnh cần khám và tuân thủ đúng liều lượng thấp, thời gian ngắn theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa [1], [2]. Nếu đang dùng chế phẩm chứa hà thủ ô mà xuất hiện các dấu hiệu như chán ăn, buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, phát ban hoặc vàng da, cần ngưng ngay lập tức và đến cơ sở y tế để kiểm tra chức năng gan [3], [8].
Hà thủ ô có những giá trị dược lý nhất định nhưng không phải là thức uống bồi bổ vô hại cho tất cả mọi người [1], [3]. Người có bệnh lý về gan, tiêu hóa kém hoặc đang dùng thuốc điều trị bệnh nền cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng bất kỳ chế phẩm nào chứa dược liệu này.
