Ăn xong chướng bụng, nhanh no, buồn nôn hay đau tức vùng thượng vị là tình trạng nhiều người bệnh tiểu đường gặp phải nhưng dễ nhầm với rối loạn tiêu hóa thông thường. Nhiều người tự mua men tiêu hóa uống dài ngày mà không biết hệ thần kinh điều khiển dạ dày đang phát tín hiệu cầu cứu.
Câu trả lời ngắn gọn là: Có. Đầy trướng bụng kéo dài ở người tiểu đường là dấu hiệu cảnh báo biến chứng liệt dạ dày do tiểu đường (diabetic gastroparesis) [1]. Biến chứng này xảy ra khi tình trạng đường huyết cao, kiểm soát kém lâu ngày làm tổn thương hệ thần kinh tự chủ điều khiển đường tiêu hóa, khiến dạ dày bóp yếu và đẩy thức ăn xuống ruột chậm bất thường [2], [1]. Không chỉ gây khó chịu, liệt dạ dày còn làm đường huyết sau ăn dao động thất thường, tạo thành vòng xoắn bệnh lý nguy hiểm [2], [3].
Khi thần kinh điều khiển dạ dày bị "tê liệt" vì đường huyết cao
Mối liên hệ giữa bệnh tiểu đường và tình trạng chậm làm rỗng dạ dày đã được y văn ghi nhận từ gần một thế kỷ trước, lần đầu tiên được báo cáo bởi Boas vào năm 1925 [1]. Đến năm 1958, thuật ngữ "liệt dạ dày do tiểu đường" (Gastroparesis diabeticorum) được Kassender đặt ra để mô tả tình trạng ứ đọng thức ăn trong dạ dày nhưng không gây triệu chứng ở bệnh nhân tiểu đường [1]. Ngày nay, y học xác định đây là một bộ phận của bệnh lý thần kinh tự chủ do tiểu đường tuýp 1 và tuýp 2 lâu năm không được kiểm soát tốt [1].
Về cơ chế, hệ thần kinh tự chủ đóng vai trò điều phối hoạt động điện học, co bóp, chức năng vận động và cảm giác của dạ dày [2], [1]. Khi bệnh thần kinh tự chủ xảy ra, hoạt động điện của dạ dày bị rối loạn, dẫn đến chậm làm rỗng dạ dày [2]. Thức ăn thay vì được nhào trộn và đẩy xuống ruột non đúng nhịp độ sẽ bị ứ đọng lại. Các triệu chứng điển hình vùng tiêu hóa trên bao gồm: nhanh no dù mới ăn ít, đầy tức bụng sau ăn, buồn nôn, nôn mửa và đau bụng [4]. Đáng lưu ý, tổn thương thần kinh tự chủ có thể ảnh hưởng đến bất kỳ đoạn nào của ống tiêu hóa, từ thực quản cho đến tận hậu môn [3].
Bên cạnh yếu tố thần kinh, rối loạn mạch máu cũng có thể tham gia vào cơ chế gây bệnh [5]. Hơn nữa, việc thức ăn rời dạ dày một cách khó đoán định sẽ làm mất ổn định quá trình kiểm soát đường huyết [2]. Giữa đường huyết sau ăn và tốc độ làm rỗng dạ dày tồn tại mối quan hệ hai chiều: đường huyết biến đổi cấp tính có thể ảnh hưởng tốc độ tiêu hóa, và ngược lại, dạ dày tiêu chậm làm đường huyết trồi sụt thất thường [3], [6].
Các nghiên cứu khoa học nói gì về chứng liệt dạ dày?
Nhiều công trình nghiên cứu qua các thập kỷ đã làm rõ đặc điểm của biến chứng này, đặc biệt là sự khác biệt giữa tiêu hóa thức ăn đặc và chất lỏng.
Một nghiên cứu công bố năm 1985 đã khảo sát 10 bệnh nhân tiểu đường nặng bị liệt dạ dày và 10 người đối chứng không mắc tiểu đường nhằm xem xét bệnh thần kinh tự chủ nội tạng ảnh hưởng đến tiêu hóa thức ăn đặc hay lỏng [7]. Các đối tượng được đo tốc độ làm rỗng dạ dày bằng kỹ thuật đồng vị phóng xạ kép đồng thời [7]. Kết quả cho thấy các xét nghiệm sàng lọc bệnh thần kinh tự chủ đều dương tính rõ rệt ở nhóm tiểu đường và âm tính ở nhóm đối chứng [7]. Tốc độ làm rỗng chất lỏng ở cả hai nhóm đều bình thường và không có sự khác biệt thống kê (p = 0,53) [7]. Ngược lại, quá trình làm rỗng thức ăn đặc bị chậm trễ rõ rệt ở nhóm tiểu đường so với nhóm chứng (p = 0,0035) [7]. Khi tiêm tĩnh mạch thuốc trợ vận động metoclopramide liều 10mg vào một ngày thử nghiệm khác, tốc độ đẩy thức ăn đặc ở bệnh nhân đã trở lại bình thường mà không làm thay đổi tốc độ tiêu chất lỏng [7].
Tương tự, một nghiên cứu năm 1987 trên nhóm nam bệnh nhân tiểu đường lâu năm phải tiêm insulin cũng đánh giá tốc độ tiêu hóa bữa ăn lỏng và đặc có gắn chất đánh dấu phóng xạ technetium [8]. Người tham gia gồm nhóm đối chứng và 3 nhóm bệnh nhân tiểu đường: nhóm A không có bệnh thần kinh, nhóm B có bệnh thần kinh ngoại biên, và nhóm C có cả bệnh thần kinh ngoại biên lẫn tự chủ [8]. Trong số này có 9 bệnh nhân xuất hiện triệu chứng tiêu hóa [8]. Kết quả ghi nhận thời gian bán rỗng dạ dày (t1/2) với chất lỏng tương đương nhau ở mọi nhóm, thậm chí trong 15 phút đầu, chất lỏng còn rời dạ dày nhanh hơn đáng kể ở người tiểu đường so với nhóm chứng [8]. Tuy nhiên, quá trình làm rỗng thức ăn đặc bị kéo dài ở nhóm C [8]. Có mối tương quan có ý nghĩa giữa thời gian làm rỗng thức ăn đặc và mức độ nặng của bệnh thần kinh [8]. Tỷ lệ chậm tiêu thức ăn đặc khá phổ biến, chiếm 27% ở bệnh nhân có bệnh thần kinh phát hiện được trên lâm sàng [8]. Cụ thể, 8 bệnh nhân tiêu chậm thức ăn đặc có tình trạng bệnh thần kinh và triệu chứng tiêu hóa nhiều hơn so với 22 bệnh nhân còn lại [8]. Nghiên cứu kết luận bệnh thần kinh tự chủ nội tạng là yếu tố nền tảng quan trọng nhất, trong khi loại tiểu đường, thời gian mắc, mức kiểm soát đường huyết và tần suất bệnh võng mạc độc lập với liệt dạ dày [8].
Một nghiên cứu khác năm 2008 trên 27 bệnh nhân tiểu đường tuýp 1 lâu năm có triệu chứng vùng bụng trên cũng sử dụng phương pháp xạ hình dạ dày kết hợp xét nghiệm phản xạ tim mạch tiêu chuẩn và bảng câu hỏi chất lượng sống [6]. Kết quả cho thấy liệt dạ dày gặp ở khoảng 30-50% bệnh nhân tiểu đường lâu năm nói chung, và trong nghiên cứu này có 7 bệnh nhân (26%) chậm tiêu thức ăn đặc, 3 người (11%) chậm tiêu chất lỏng [6]. Thời gian bán rỗng trung bình với thức ăn đặc là 128 ± 116 phút và với chất lỏng là 42 ± 30 phút [6]. Trong 26 người làm xét nghiệm thần kinh, có 16 người (62%) bị rối loạn chức năng thần kinh tự chủ [6]. Điểm số bệnh thần kinh tự chủ (1,6 ± 1,7) tương quan thuận với tốc độ làm rỗng thức ăn đặc (P = 0,006), nhưng tốc độ này lại không liên quan đến điểm số triệu chứng hay nồng độ đường huyết lúc chụp xạ hình [6]. Chất lượng sống của nhóm bệnh nhân có triệu chứng bụng thấp hơn so với dân số Phần Lan bình thường [6].
Về yếu tố mạch máu, nghiên cứu năm 2014 đã thực hiện xạ hình làm rỗng dạ dày với chất đánh dấu (99m) Tc-DTPA trên 34 bệnh nhân tiểu đường để đo thời gian bán rỗng (T1/2) của toàn bộ dạ dày (WS), phần gần (PS) và phần xa dạ dày (DS) [5]. Nhóm có T1/2 toàn bộ dạ dày bị chậm có tỷ lệ bệnh thần kinh tự chủ cao hơn và độ dày lớp nội trung mạc (IMT) của hành cảnh lớn hơn nhóm bình thường (2,41 mm [1,50-2,81] so với 1,40 mm [0,81-2,08], P = 0,015) [5]. T1/2 toàn bộ dạ dày tương quan thuận với IMT hành cảnh (r = 0,391, P = 0,027) và tương quan nghịch với chỉ số huyết áp cổ chân - cánh tay ABI (r = -0,389, P = 0,028), vốn là các chỉ số nguy cơ rối loạn mạch máu [5]. Đáng chú ý, ở 7 trong số 9 bệnh nhân được chụp xạ hình lại sau khi điều trị tiểu đường, chỉ số HbA1c đã giảm xuống và thời gian T1/2 toàn bộ dạ dày được rút ngắn lại so với trước điều trị [5].
Khi biến chứng tấn công cả người trẻ tuổi
Dù liệt dạ dày ở lứa tuổi nhi khoa rất hiếm gặp, y văn năm 2022 đã báo cáo ca bệnh nặng của một thiếu niên 16 tuổi mắc tiểu đường tuýp 1 [4]. Bệnh nhân nhập viện vì buồn nôn, nôn mửa và đau bụng tái đi tái lại, dẫn đến ăn uống kém và sụt cân tiến triển [4]. Tiền sử kiểm soát đường huyết của cô bé rất dao động, từng nhiều lần nhập viện vì nhiễm toan ceton do tiểu đường và các đợt hạ đường huyết nặng tái diễn [4].
Sau khi loại trừ các nguyên nhân gây nôn do nhiễm trùng, cơ học, chuyển hóa và thần kinh, bác sĩ đã thực hiện xạ hình làm rỗng dạ dày – tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán – và xác nhận tình trạng liệt dạ dày [4]. Bệnh nhân được điều trị bằng thuốc metoclopramide giúp giảm dần triệu chứng, đồng thời áp dụng liệu pháp insulin với hệ thống vòng kín lai tiên tiến để ổn định đường huyết thành công [4].
Giới hạn của các phương pháp chẩn đoán và điều trị hiện tại
Mặc dù ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống, bệnh thần kinh tự chủ tiêu hóa vẫn chưa được đánh giá đúng mức trên lâm sàng [3]. Một hạn chế lớn là hiện chưa có xét nghiệm nào đánh giá trực tiếp tổn thương thần kinh tự chủ đường tiêu hóa ở người [3]. Các bác sĩ thường phải dùng các xét nghiệm phản xạ tự chủ tim mạch làm thước đo thay thế, nhưng phương pháp này chưa thực sự tối ưu [3].
Trong chẩn đoán liệt dạ dày, xạ hình làm rỗng dạ dày là tiêu chuẩn vàng [4]. Tuy nhiên, trước đó bác sĩ bắt buộc phải loại trừ tình trạng tắc nghẽn cơ học và các nguyên nhân khác, bao gồm cả các loại thuốc đang dùng có thể gây triệu chứng giả liệt dạ dày [1]. Về điều trị, các lựa chọn hiện nay phần lớn vẫn mang tính kinh nghiệm và chưa tối ưu [3], đồng thời số lượng thuốc trợ vận động (prokinetics) được cấp phép sử dụng còn hạn chế tại một số quốc gia như Mỹ [1].
Những hiểu lầm thường gặp về triệu chứng tiêu hóa ở người tiểu đường
Hiểu lầm phổ biến nhất là cho rằng "phải có triệu chứng đầy bụng, buồn nôn mới là bị liệt dạ dày". Thực tế, chứng chậm tiêu thức ăn đặc rất hay gặp nhưng thường không có triệu chứng rõ ràng (tiềm ẩn) [1], [8].
Ngược lại, nhiều người nghĩ cứ đau bụng trên hay chướng bụng là do dạ dày co bóp chậm. Nghiên cứu năm 2008 và đánh giá năm 2020 chỉ ra rằng các triệu chứng tiêu hóa rất phổ biến ở người tiểu đường, nhưng thường chỉ tương quan yếu hoặc không thể giải thích hoàn toàn bằng sự suy giảm tốc độ làm rỗng dạ dày [3], [6]. Do đó, người bệnh không nên tự chẩn đoán chỉ dựa vào cảm giác chủ quan.
Ai nên thận trọng với biến chứng liệt dạ dày?
Những nhóm bệnh nhân sau cần đặc biệt cảnh giác và nên trao đổi sớm với bác sĩ chuyên khoa:
- Người mắc tiểu đường tuýp 1 hoặc tuýp 2 lâu năm nhưng kiểm soát đường huyết kém [1].
- Trẻ em và thanh thiếu niên mắc tiểu đường lâu năm có đường huyết dao động thất thường, hay bị nhiễm toan ceton hoặc hạ đường huyết nặng [4].
- Bệnh nhân đã được chẩn đoán có bệnh lý thần kinh ngoại biên, bệnh thần kinh tự chủ hoặc có các tổn thương mạch máu (như dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh, giảm chỉ số ABI) [5], [8].
- Người có các dấu hiệu: no sớm, đầy bụng sau ăn, buồn nôn, nôn mửa, đau bụng, ăn kém dẫn đến sụt cân không rõ nguyên nhân [4].
Áp dụng thực tế trong kiểm soát và chăm sóc hàng ngày
Phòng ngừa liệt dạ dày bằng cách kiểm soát đường huyết tối ưu ngay từ sớm luôn là giải pháp hiệu quả và tiết kiệm chi phí nhất [1]. Khi đã xuất hiện triệu chứng, trụ cột điều trị bao gồm: điều chỉnh dinh dưỡng, bù đủ nước, giảm triệu chứng và kiểm soát tốt đường huyết [1], [4].
Trong ăn uống hàng ngày, do các nghiên cứu đều chứng minh dạ dày người bệnh bị chậm tiêu thức ăn đặc nhưng vẫn tiêu hóa chất lỏng ở tốc độ bình thường [7], [8], người bệnh khi đang có đợt đầy trướng, buồn nôn nên ưu tiên thức ăn dạng lỏng, mềm, nhuyễn hoặc súp để giảm tải cho dạ dày và đảm bảo đủ nước, đủ dinh dưỡng [1], [7].
Về y tế, người bệnh cần tuân thủ chỉ định của bác sĩ. Bác sĩ có thể kê thuốc trợ vận động (như metoclopramide) để cải thiện hoạt động điện dạ dày, đẩy nhanh tiêu hóa thức ăn đặc, từ đó vừa giảm triệu chứng tiêu hóa vừa giúp ổn định đường huyết [2], [7], [4]. Để khắc phục tình trạng đường huyết trồi sụt do thức ăn xuống ruột thất thường, bác sĩ có thể tùy chỉnh phác đồ insulin (như phác đồ basal-bolus) hoặc ứng dụng công nghệ như máy theo dõi đường huyết liên tục (CGM), bơm insulin có cảm biến hoặc hệ thống vòng kín lai [1], [4]. Với các ca kháng trị bằng thuốc, y học hiện có các biện pháp can thiệp chuyên sâu như điều biến thần kinh dạ dày hoặc phẫu thuật/nội soi can thiệp môn vị [1].
Tóm lại, đầy trướng bụng ở người tiểu đường không đơn thuần là chuyện ăn không tiêu mà có thể là tiếng chuông cảnh báo tổn thương thần kinh tự chủ và mạch máu [1], [5]. Người bệnh tuyệt đối không tự ý dùng thuốc mà cần đi khám để được chẩn đoán phân biệt chính xác và điều chỉnh phác đồ đường huyết kịp thời [1]. Kiểm soát đường huyết ổn định trung và dài hạn chính là chìa khóa giúp phục hồi chức năng vận động của dạ dày và bảo vệ chất lượng sống [3], [5].


