Cơn sốt hạ nhanh: Niềm vui ngắn chẳng tày gang
Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm cấp tính rất phổ biến, thường khởi phát đột ngột với những cơn sốt cao li bì kéo dài nhiều ngày. Tâm lý chung của người bệnh cũng như thân nhân là khi nhiệt độ cơ thể hạ về mức bình thường, ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm vì nghĩ rằng vi rút đã bị đẩy lùi và cơ thể đang hồi phục hoàn toàn.
Tuy nhiên, trong tiến trình tự nhiên của sốt xuất huyết, thời điểm nhiệt độ bắt đầu hạ bớt lại chính là lúc bước ngoặt nguy hiểm nhất mở ra. Trái với suy nghĩ thông thường, hết sốt chưa đồng nghĩa với khỏi bệnh mà thường báo hiệu sự bắt đầu của một giai đoạn đặc biệt: giai đoạn nguy kịch [1].
Nếu chủ quan ngừng theo dõi sức khỏe hoặc tự ý rời khỏi sự giám sát y tế ngay khi vừa dứt sốt, người bệnh có thể đối mặt với những biến chứng suy sụp tuần hoàn diễn tiến nhanh chóng, thậm chí đe dọa trực tiếp đến tính mạng chỉ trong vài giờ [1], [2].
Vì sao hết sốt lại là lúc nguy kịch nhất?
Cơ chế bệnh sinh của sốt xuất huyết có sự khác biệt lớn so với các bệnh cảm sốt thông thường. Khi nhiệt độ cơ thể giảm xuống mức 37,5 đến 38 độ C hoặc thấp hơn, thường rơi vào khoảng từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 của chu kỳ bệnh, hiện tượng tăng tính thấm thành mạch bắt đầu diễn ra ồ ạt [1].
Bình thường, lòng mạch máu được lót bởi một lớp tế bào nội mô và cấu trúc glycocalyx giúp giữ các thành phần dịch và protein ở lại bên trong tuần hoàn máu [3], [4]. Dưới tác động của phản ứng miễn dịch khi nhiễm vi rút Dengue, các phân tử và cytokine gây viêm được tiết ra làm tổn thương hàng rào bảo vệ này [4], [5]. Điển hình, các tế bào nội mô bị kích hoạt sẽ giải phóng các dấu ấn như Endoglin (ENG) và Syndecan-1 (SDC-1), đồng thời các tế bào miễn dịch sản sinh ra những chất trung gian hóa học làm phá vỡ tính nguyên vẹn của mạch máu [3], [5].
Hậu quả là huyết tương – phần dịch lỏng quan trọng mang dưỡng chất và duy trì thể tích tuần hoàn – sẽ bị rò rỉ, thoát ra khỏi lòng mạch đi vào các khoang kẽ của cơ thể [3], [2]. Khi huyết tương thất thoát với số lượng lớn, thể tích máu lưu thông tụt giảm nghiêm trọng, dẫn đến tình trạng cô đặc máu (thể hiện qua chỉ số hematocrit tăng cao) trong khi số lượng tiểu cầu sụt giảm xuống mức rất thấp [1], [5], [6]. Tình trạng này khiến huyết áp tụt kẹp, cản trở việc tưới máu đến các cơ quan nội tạng quan trọng và kích hoạt sốc giảm thể tích [4], [2], [6].
Các bằng chứng khoa học ghi nhận điều gì?
Nhiều nghiên cứu y khoa lâm sàng và cận lâm sàng đã phân tích chi tiết diễn biến sinh học của cơ thể người bệnh ở thời điểm hạ sốt:
Một nghiên cứu công bố năm 2021 đã định lượng nồng độ protein và biểu hiện gen của Endoglin (ENG) và Syndecan-1 (SDC-1) ở các giai đoạn sốt, giai đoạn hạ sốt và giai đoạn hồi phục trên 15 ca sốt xuất huyết không có dấu hiệu cảnh báo, 22 ca có dấu hiệu cảnh báo, 10 ca sốt xuất huyết nặng, so sánh với 10 ca sốt do nguyên nhân khác và 8 người khỏe mạnh [3]. Kết quả ghi nhận nồng độ protein và mRNA của cả hai dấu ấn này tăng đều đặn và có ý nghĩa thống kê (P <= 0,01) về phía giai đoạn hạ sốt [3]. Đặc biệt, trong giai đoạn nguy kịch này, nồng độ của chúng ở nhóm sốt xuất huyết nặng cao hơn rõ rệt (P <= 0,001) so với các nhóm còn lại [3]. Mô hình thuật toán phân tích chỉ ra rằng nồng độ huyết thanh của các dấu ấn này kết hợp triệu chứng lâm sàng có thể dự đoán mức độ nghiêm trọng với độ chính xác đạt 100% [3].
Một nghiên cứu công bố năm 2020 theo dõi xu hướng huyết áp ở bệnh nhân người lớn nhập viện cho thấy huyết áp tâm thu giảm dần trong quá trình bệnh tiến triển, chạm mức đáy vào khoảng ngày thứ 6 đến ngày thứ 7 của bệnh, trùng khớp với ngày hạ sốt và 1 ngày sau đó [4]. Sau giai đoạn hạ sốt 2 đến 3 ngày, chỉ số này mới phục hồi [4]. Đáng chú ý, mức tăng huyết áp tâm trương trung bình từ lúc ban đầu đến đỉnh nhỏ hơn 10 mmHg ở mọi phân nhóm, dẫn đến hiện tượng kẹp hẹp hiệu số huyết áp khi huyết áp tâm trương tiến sát huyết áp tâm thu [4].
Một báo cáo chuỗi ca bệnh năm 2014 nhấn mạnh rằng giai đoạn thoát huyết tương có ý nghĩa lâm sàng thường kéo dài từ 24 đến 48 giờ quanh thời điểm hạ sốt (ngày thứ 3 đến ngày thứ 7) [1]. Trẻ em hay người lớn có thể đối mặt với hiện tượng tụt tiểu cầu kèm theo tăng hematocrit, nôn ra chất màu bã cà phê do xuất huyết tiêu hóa ngay sau khi vừa hết sốt [1].
Đồng thuận quốc tế năm 2018 về tiêu chí nghiên cứu đã xác định cô đặc máu qua mức thay đổi hematocrit trên 15% đối với thoát huyết tương vừa (được 73% chuyên gia đồng thuận chọn lựa) và mức thay đổi trên 20% đối với thoát huyết tương nặng (72% chuyên gia đồng thuận lựa chọn) [2]. Đa số các chuyên gia (79%) cũng xác định tràn dịch màng phổi và cổ trướng là những bằng chứng then chốt chứng minh tình trạng thoát huyết tương nặng [2].
Hiểu lầm tai hại: Hết sốt là được xả hơi?
Sai lầm phổ biến nhất trong chăm sóc người bệnh sốt xuất huyết tại nhà là xem nhiệt độ cơ thể làm thước đo duy nhất của mức độ nặng nhẹ. Nhiều gia đình thấy người bệnh cắt sốt, không còn trằn trọc nóng ran thì thở phào, chủ quan cho rằng bệnh đã khỏi hoàn toàn [1].
Một số người thậm chí ngay khi vừa thấy nhiệt kế chỉ 37 độ C đã vội vã quay trở lại làm việc nặng, tự ý ngừng dùng dung dịch bù nước hoặc bỏ qua các lịch hẹn tái khám xét nghiệm máu [1], [7]. Thực tế, giai đoạn nguy kịch thoát huyết tương chỉ diễn ra trong vòng 24 đến 48 giờ, đôi khi kéo dài từ 48 đến 72 giờ [1], [5], [6], [7]. Nếu không phát hiện kịp thời sự cô đặc máu, người bệnh có thể nhanh chóng rơi vào trạng thái sốc giảm thể tích [1], [2], [6].
Bên cạnh đó, việc người bệnh cảm thấy bớt sốt nhưng lại xuất hiện cảm giác mệt lả, bồn chồn, lạnh đầu chi thường bị nhầm là do "mệt sau ốm", trong khi đó thực chất lại là phản ứng bù trừ của hệ tuần hoàn trước khi huyết áp tụt hẳn [1], [6]. Việc hạ sốt đột ngột kết hợp cải thiện lâm sàng biểu kiến chính là chỉ định cần theo dõi sát sao hơn chứ không phải là lý do để xuất viện hay lơ là [1].
Dấu hiệu nhận biết cơ thể chuyển nặng cần cấp cứu
Giai đoạn nguy kịch bắt đầu từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 của bệnh đòi hỏi người bệnh và người nhà phải theo dõi sát sao từng giờ [1], [6]. Cần đưa người bệnh đến ngay cơ sở y tế gần nhất nếu xuất hiện bất kỳ dấu hiệu cảnh báo nào sau đây:
- Đau bụng nhiều hoặc đau tăng dần vùng hạ sườn phải, nôn ói liên tục [1], [7].
- Chân tay lạnh, da tái, vã mồ hôi, mạch nhanh, người bệnh li bì hoặc vật vã, bồn chồn không yên [1], [6], [7].
- Xuất huyết dưới da lan rộng, chảy máu chân răng, chảy máu cam, nôn ra máu hoặc đi ngoài phân đen bã cà phê [1], [6], [7].
- Không đi tiểu hoặc lượng nước tiểu giảm rõ rệt trong nhiều giờ liền [1], [2].
- Khó thở, thở nhanh nông do tràn dịch màng phổi hoặc ứ dịch ổ bụng [2], [7].
Về mặt xét nghiệm, sự tụt giảm nhanh chóng của lượng tiểu cầu kết hợp với sự gia tăng đột ngột của hematocrit (chỉ số cô đặc máu) là dấu hiệu cận lâm sàng đáng báo động báo trước nguy cơ sốc [1], [5], [7].
Nhóm đối tượng nào cần đặc biệt thận trọng?
Dù sốt xuất huyết có thể chuyển nặng ở bất kỳ ai, nhưng một số nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao hơn hẳn khi bước vào giai đoạn hạ sốt:
Người có bệnh nền tăng huyết áp mạn tính cần được theo dõi vô cùng cẩn trọng [4]. Nghiên cứu chỉ ra rằng những thay đổi mãn tính trên lớp glycocalyx nội mô mao mạch và sự kích hoạt hệ thống renin-angiotensin ở người tăng huyết áp có thể làm tăng tính tổn thương mạch máu khi nhiễm vi rút [4].
Người mắc các chủng vi rút liên quan đến dịch tễ nguy cơ cao cũng cần lưu ý [8]. Theo tổng quan y khoa, nhiễm vi rút serotype DENV-3 ở khu vực Đông Nam Á ghi nhận tỷ lệ ca nặng cao nhất trong nhiễm trùng nguyên phát, trong khi DENV-2 và DENV-3 chiếm tỷ lệ ca nặng lớn nhất trong nhiễm trùng thứ phát (tái nhiễm) [8]. Tại Đông Nam Á, DENV-2 và DENV-4 liên quan chặt chẽ với hội chứng sốc sốt xuất huyết (DSS), còn DENV-3 và DENV-4 liên quan nhiều đến sốt xuất huyết Dengue thể xuất huyết (DHF) [8].
Ngoài ra, trẻ nhỏ, người cao tuổi, phụ nữ có thai và những bệnh nhân có biểu hiện thoát dịch biểu hiện qua tràn dịch màng phổi, cổ trướng đều là các đối tượng bắt buộc phải có sự theo dõi liên tục từ nhân viên y tế [1], [2].
Hướng dẫn chăm sóc và theo dõi đúng cách tại nhà
Để vượt qua giai đoạn từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 an toàn, việc chăm sóc đúng nguyên tắc khoa học đóng vai trò quyết định:
Chủ động bù dịch đường uống: Người bệnh cần uống đủ nước, sử dụng dung dịch oresol pha đúng tỷ lệ, nước trái cây, nước canh ấm. Tuy nhiên, việc bù dịch phải rải đều từng ngụm nhỏ trong ngày, không uống quá dồn dập [5], [7]. Tuyệt đối không tự ý gọi dịch vụ truyền dịch tại nhà vì nếu truyền dịch không kiểm soát trong giai đoạn này hoặc truyền sai thời điểm khi dịch bắt đầu tái hấp thu (khoảng 48-72 giờ sau hạ sốt) có thể gây quá tải tuần hoàn, phù phổi cấp suy hô hấp cực kỳ nguy hiểm [5], [7].
Theo dõi xét nghiệm máu định kỳ: Chỉ số hematocrit và tiểu cầu cần được kiểm tra đều đặn từ ngày thứ 3 cho đến khi người bệnh hết sốt hoàn toàn được 1 đến 2 ngày, khi mà nguy cơ tiến triển thành sốc đã giảm xuống thấp [1].
Nghỉ ngơi tuyệt đối: Người bệnh cần hạn chế vận động thể lực mạnh, nằm nghỉ ngơi nơi thoáng khí, giữ ấm lòng bàn chân bàn tay nếu có hiện tượng lạnh chi [1], [6]. Đo huyết áp và đếm mạch thường xuyên nếu có thiết bị tại nhà nhằm phát hiện sớm hiện tượng kẹp huyết áp hoặc tụt huyết áp tâm thu [4], [6]. Khi có bất kỳ nghi ngờ nào, hãy trao đổi ngay với bác sĩ điều trị để nhận được can thiệp kịp thời.
Lời khuyên cân bằng
Hạ sốt trong sốt xuất huyết không phải là hồi kết của bệnh, mà là thời khắc khởi đầu của giai đoạn thử thách sức chịu đựng của thành mạch máu. Bình tĩnh theo dõi, nhận diện sớm dấu hiệu cảnh báo thoát huyết tương và tuân thủ tái khám xét nghiệm sẽ giúp người bệnh vượt qua 24 đến 48 giờ then chốt một cách an toàn. Tuyệt đối không tự điều trị hoặc truyền dịch bừa bãi khi chưa có hướng dẫn y khoa.


