Nhầm lẫn phổ biến giữa hoa và vỏ cây hợp hoan
Nhiều người tìm đến các thảo dược tự nhiên để cải thiện tình trạng căng thẳng, lo âu và mất ngủ kéo dài. Cây hợp hoan (tên khoa học là Albizia julibrissin Durazz) là vị thuốc quen thuộc trong y học cổ truyền [1]. Tuy nhiên, nhiều người vẫn lầm tưởng rằng hoa và vỏ của loài cây này có thể dùng thay thế cho nhau với cùng một tác dụng [1].
Thực tế, dược điển truyền thống đã ghi nhận vỏ thân (hợp hoan bì) và hoa (hợp hoan hoa) là hai bộ phận dùng riêng biệt với những tính chất khác nhau [1]. Sự khác biệt này bắt nguồn từ chính các hoạt chất hóa sinh phân bố không đồng đều giữa các bộ phận của cây [1].
Sự khác biệt cốt lõi: Flavonoid và Saponin
Để hiểu vì sao hai bộ phận lại có hướng sử dụng khác nhau, cần nhìn vào thành phần hóa học đặc trưng của từng bộ phận. Theo các nghiên cứu tổng quan, đến nay đã có khoảng 140 hợp chất được phân lập từ hoa và vỏ thân của cây hợp hoan [1]. Các nhóm chất chính bao gồm flavonoid, triterpenoid, saponin, lignan, alkaloid và axit phenolic [1].
Điểm khác biệt quan trọng nằm ở tỷ lệ phân bố giữa hoa và vỏ thân cây. Hợp chất nhóm flavonoid chủ yếu tập trung ở nụ và hoa của cây hợp hoan [1]. Ngược lại, vỏ thân cây hợp hoan lại chứa thành phần chính là các hợp chất nhóm saponin và lignan [1]. Ngoài ra, vỏ thân cây còn được ghi nhận là nguồn chứa dồi dào các triterpenoid saponin (còn gọi là julibroside) [2, 4].
Chính sự phân bố hoạt chất này tạo nên sự khác biệt về dược tính giữa hai vị thuốc [1]. Flavonoid trong nụ hoa thường gắn liền với tác dụng dịu thần kinh nhẹ nhàng, trong khi các saponin và lignan trong vỏ thân lại thể hiện phổ hoạt tính sinh học đa dạng và mạnh mẽ hơn [1, 2].
Nghiên cứu khoa học nói gì về hợp hoan bì?
Các nghiên cứu hiện đại đã tập trung phân tích sâu thành phần hóa thực vật cũng như dược lý thực nghiệm của vỏ thân cây hợp hoan (Albizia julibrissin).
Một nghiên cứu tổng quan công bố năm 2023 đã tổng hợp dữ liệu lịch sử và dược lý của cây hợp hoan từ nhiều cơ sở dữ liệu khoa học lớn như SciFinder, PubMed, Elsevier [1]. Kết quả chỉ ra rằng lịch sử dùng thuốc của loài cây này đã có từ năm 25 sau Công nguyên tại Trung Quốc và nhiều nước châu Á [1]. Nghiên cứu xác nhận các chiết xuất thô và hợp chất tinh khiết từ vỏ thân cũng như hoa đều thể hiện nhiều hoạt tính sinh học, nhưng cấu trúc hóa học khác biệt dẫn đến ứng dụng lâm sàng cổ truyền khác nhau [1].
Một đánh giá dược lý khác tổng hợp các nghiên cứu từ năm 2004 đến năm 2024 chỉ ra rằng các chất chiết xuất từ cây hợp hoan chứa nhiều triterpenoid julibroside, flavonoid và lignan [2]. Các thử nghiệm ống nghiệm (in vitro) và trên mô hình động vật (in vivo) ghi nhận các tác dụng như chống trầm cảm, giải lo âu, an thần, chống khối u, chống béo phì, kháng khuẩn và kháng ký sinh trùng [2, 7].
Về tác dụng trên tế bào ung thư, một nghiên cứu năm 2017 đã thử nghiệm saponin toàn phần chiết xuất từ vỏ thân hợp hoan trên dòng tế bào ung thư gan người (HepG2) [3]. Kết quả cho thấy saponin toàn phần ức chế sự tăng sinh và thúc đẩy quá trình tự chết theo chu trình (apoptosis) của tế bào HepG2 [3]. Các nhà khoa học đã xác định được 5 protein đích trực tiếp liên quan đến quá trình này gồm Exportin-2, Beta-actin-like protein 2, Myosin-9, chuỗi beta Sec61 và Cytochrome c oxidase copper chaperone [3].
Trước đó, một nghiên cứu phân lập năm 2006 cũng tìm thấy ba saponin triterpenoid mới từ vỏ thân cây là julibroside J29, J30 và J31 [4]. Ở nồng độ 10 micromol/L, ba hợp chất này cho thấy hoạt tính chống khối u rõ rệt trong ống nghiệm trên các dòng tế bào ung thư PC-3M-1E8, HeLa và MDA-MB-435 [4]. Đến năm 2019, các nhà khoa học tiếp tục phát hiện thêm ba saponin mới là julibroside A5-A7 cùng năm saponin đã biết từ vỏ thân, nhưng các chất này không thể hiện độc tính tế bào hay hoạt tính chống viêm trong thử nghiệm [5].
Ngoài saponin, vỏ thân hợp hoan còn chứa nhiều lignan có hoạt tính sinh học. Một nghiên cứu năm 2020 đã phân lập nhiều phân nhóm lignan và dẫn xuất phenolic từ dịch chiết vỏ thân cây [6]. Thử nghiệm trên tế bào đại thực bào chuột RAW264.7 bị kích thích bởi LPS cho thấy 10 hợp chất thể hiện khả năng ức chế sản sinh nitric oxide (NO) phụ thuộc vào liều dùng, với giá trị IC50 từ 5,4 đến 19,2 micromol/L, chứng minh tiềm năng kháng viêm [6].
Bên cạnh các thử nghiệm tế bào, vỏ thân hợp hoan cũng bước đầu được đánh giá trên người ở lĩnh vực ngoài da. Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi thực hiện trên 40 bệnh nhân bị bỏng độ 2 và độ 3 [7]. Các bệnh nhân được chia đều vào hai nhóm: 20 người dùng gel chứa 5% chiết xuất vỏ thân hợp hoan (chiết bằng cồn 60%) và 20 người dùng kem bôi SSD 1%, thoa mỗi ngày một lần trong 30 ngày sau khi rửa bằng nước muối [7]. Nghiên cứu theo dõi các thông số như viêm, đau, ngứa, ban đỏ, phù nề và tiết dịch để đánh giá hiệu quả phục hồi vết thương [7].
Đích tác dụng và hiệu quả an thần: Hoa hay vỏ thân?
Trong y học cổ truyền, cả vỏ thân và hoa hợp hoan đều được ghi chép để trị lo âu, u uất và mất ngủ [1, 2]. Dù vậy, cơ chế và đích tác động sinh học của hai bộ phận này có sự phân hóa rõ nét dựa theo thành phần hóa học [1].
Vỏ thân hợp hoan chứa hàm lượng lớn triterpenoid saponin và lignan [1]. Các hoạt chất này tác động lên hệ thần kinh trung ương thông qua các con đường điều hòa phản ứng căng thẳng, thể hiện hoạt tính an thần, chống trầm cảm và giải lo âu trên các mô hình thực nghiệm động vật [2, 7]. Nhờ đó, vỏ thân thường được hướng tới các trường hợp mất ngủ sâu, căng thẳng kèm theo uất ức hoặc chấn thương, đau nhức [1, 2].
Trong khi đó, nụ và hoa hợp hoan có thế mạnh về các hợp chất flavonoid [1]. Nhóm chất này mang lại tác dụng làm dịu căng thẳng nhẹ nhàng, giải tỏa u sầu, thanh can, hỗ trợ cải thiện thị lực mờ hay viêm kết mạc theo kinh nghiệm truyền thống mà ít gây cảm giác ức chế nặng nề [1].
Giới hạn của bằng chứng hiện nay
Dù cây hợp hoan có bề dày lịch sử hàng ngàn năm trong y học cổ truyền, người tiêu dùng cần nhìn nhận khách quan về các bằng chứng khoa học hiện tại [1]. Đa số các nghiên cứu dược lý hiện đại về saponin và lignan của hợp hoan mới dừng lại ở mức thử nghiệm ống nghiệm (in vitro) trên dòng tế bào hoặc mô hình động vật (in vivo) [2, 3, 7, 8].
Các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trên người vẫn còn rất hạn chế [7]. Hiện tại, nghiên cứu lâm sàng mới chỉ ghi nhận trên dạng gel bôi ngoài da 5% chiết xuất vỏ thân để điều trị bỏng, chưa có đầy đủ các thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn trên người về tác dụng an thần, chữa mất ngủ hay trầm cảm [7]. Do đó, các kết quả này không thể khẳng định hợp hoan bì hay hợp hoan hoa có thể thay thế thuốc điều trị đặc hiệu.
Hiểu lầm thường gặp khi dùng hợp hoan
Nhiều người cho rằng vì cùng là cây hợp hoan nên hoa hay vỏ thân đều có thể dùng chung một liều và thay thế được cho nhau. Đây là quan niệm sai lầm, bởi nồng độ saponin đậm đặc trong vỏ thân có thể gây kích ứng đường tiêu hóa nếu dùng không đúng cách, trong khi hoa lại có hàm lượng flavonoid chiếm ưu thế [1].
Một hiểu lầm khác là thảo dược tự nhiên thì an toàn tuyệt đối và có thể chữa dứt điểm bệnh trầm cảm hay mất ngủ mãn tính. Thực tế, hợp hoan chỉ có tác dụng hỗ trợ an thần và cải thiện tâm trạng nhẹ [2]. Người bệnh tuyệt đối không tự ý ngưng các loại thuốc thần kinh đang dùng để chuyển sang dùng thảo dược.
Ai nên thận trọng khi sử dụng?
Người có vấn đề về dạ dày hoặc tiêu hóa kém cần cẩn trọng khi dùng vỏ thân hợp hoan, bởi thành phần saponin dồi dào có thể gây khó chịu cho niêm mạc ruột nếu dùng lượng nhiều [1, 2].
Chưa có nghiên cứu an toàn đầy đủ trên phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ. Do đó, các nhóm đối tượng này không nên tự ý dùng các bài thuốc hay sản phẩm từ hợp hoan khi chưa có chỉ định y khoa. Những người đang dùng thuốc an thần, thuốc chống trầm cảm hoặc thuốc ức chế thần kinh trung ương cũng phải tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi phối hợp để tránh tương tác bất lợi.
Cách áp dụng thực tế và lưu ý
Khi có nhu cầu cải thiện chất lượng giấc ngủ và giảm căng thẳng, bạn cần xác định rõ tình trạng của bản thân để chọn vị thuốc phù hợp [1]. Nếu thường xuyên lo âu, mất ngủ dai dẳng, kinh nghiệm dân gian ưu tiên sắc nước vỏ thân đã qua sơ chế [2]. Nếu chỉ bị bồn chồn, mệt mỏi nhẹ hoặc u sầu, hoa hợp hoan hãm trà là lựa chọn nhẹ nhàng hơn [1].
Hiện tại, các tài liệu nghiên cứu chưa đưa ra một con số cụ thể về liều lượng chung cố định cho đường uống đối với từng cá nhân. Do đó, người dùng chỉ nên sử dụng ở mức độ vừa phải, tuân thủ đúng hướng dẫn ghi trên bao bì sản phẩm thảo dược đạt chuẩn hoặc theo đơn kê của bác sĩ y học cổ truyền. Tuyệt đối không tự ý thu hái vỏ cây hay hoa tươi ngoài tự nhiên khi chưa qua xử lý làm sạch và kiểm định chất lượng.
Hợp hoan bì và hợp hoan hoa tuy bắt nguồn từ cùng một loài thực vật nhưng lại có thành phần flavonoid, saponin và đích tác động khác nhau [1]. Hiểu đúng bản chất từng bộ phận giúp bạn sử dụng an toàn và phát huy tối đa giá trị chăm sóc sức khỏe.


